Vũ Lâm
30
Tháng 4
(Trích
đăng từ Nguyệt San Con Ong Việt số 92 tháng 4, 2008)
33 năm
của những người lính.
33
năm đã trôi qua, đếm từ cái mốc thời gian 30
tháng 4 năm 75 đến 30 tháng 4 năm nay 2008. 33 lần Tháng Tư,
lại Tháng Tư, lại 30 Tháng Tư!.
33 lần xoáy mũi dao nhọn
vào vết thương vẫn còn ứa máu của những
người lính miềân
33
năm tiếc, nhớ, thương bạn bè chiến hữu bỏ
mình trong cuộc chiến, trong trại tù Cộng
Sản hoặc ra đi vì tuổi đời chồng
chất.
33 năm những người lính còn ở lại
quê nhà oằn oại chịu đựng ngon roi thù của
kẻ chiến thắng.
33 năm những người thương binh vẫn từng
ngày ngậm ngùi nhìn thân thể với những vết
sẹo, những thương tật chiến trận để
lại.
33
năm còng lưng gánh nặng những đau buồn, tủi
nhục, khắc khoải của người lính thua trận
mà không phải vì mình bất tài, hèn yếu
...
33
năm đã trôi qua, những người lính vẫn mắc nợ những
người lính, nợ nghiệp lính, nợ quê hương tổ
quốc nhưng cuối nẻo đường trần không bao
giờ trả được!
Quốc thù vị báo đầu tiên
bạch
Kỷ độ Long-tuyền đới
nguyệt ma!! . . .
33
năm đã trôi qua nhưng vết hằn cuộc chiến
vẫn còn đó!
33
năm trăn trở, tiếc nuối một
quãng đời dang dở, nửa đường đứt gánh ...
đời lính!
*
Cái nghịch
lý của hòa bình 30 tháng 4.
33 năm đã trôi qua, người Việt lưu vong
nhìn lại quê hương Việt
Những người tị nạn đầu tiên sợ
hãi, hốt hoảng ra đi, những cặp vợ
chồng lếch thếch, tay bồng, tay bế, tay dắt
con cái, tay xách, tay mang những tài sản cá nhân gom góp vội
vàng, gỏn gọn chỉ là cái bao, cái túi, họ chạy đi
mà không biết mình sẽ đi đâu, đến đâu. Chồng
mất vợ, vợ lạc chồng, con cái thất tán,
giữa sự sống và chết họ chen
lấn xô đẩy, dành giật lấy một chỗ
đứng, chỗ ngồi trên máy bay, trên những con tầu
rời bỏ quê hương.
Chấm dứt chiến tranh, hòa bình, nhưng
hàng triệu người đã trốn chạy ra biển,
họ vượt biển bằng những chiếc thuyền
mong manh phó mặc cho số mệnh, họ cầm bằng
cái chết để trốn chạy cộng sản, đó là cái
nghịch lý của hòa bình 30 tháng tư, 33 năm
về trước.
33
năm nghiền ngẫm cái nghịch lý của ngày
chấm dứt cuộc chiến 30 tháng tư.
Cái nghịch lý của luật trời: Người
hiền lương thua kẻ gian ác? Cái nghịch lý của
định mệnh: Những người tù lương thiện ở
trong các nhà tù mà người cai tù là những tội phạm.
*
33 năm Cộng
Sản tàn phá đất nước.
Sau
cuộc chiến, Cộng Sản Việt Nam thay vì xây
dựng, đoàn kết, hướng về một chân trời
mới đầy hứa hẹn cho dân tộc, họ lại
đạp đổ, phá nát, tàn phá, bần cùng đất nước
nhiều hơn trong chiến tranh. Họ quỷ quái mưu mô hơn
bất cứ một dân tộc nào trên thế giới,
họ cướp bóc tài sản trắng trợn, họ
giết phe bại trận một cách tinh xảo che mắt
được thế gian, nhân loại, họ giết từ
từ, giết chầm chậm, giết người mà không
thấy máu, giết thể xác, giết phần hồn,
giết cả triệu quân dân cán chính miền Nam, giết
bằng đầy ải, tù đày, giết gián tiếp cả
những người thân thuộc, gia đình, cha mẹ,
vợ con.
33 năm những oan hồn của người tù cải
tạo, của thuyền nhân trên biển vẫn còn
vất vưởng nơi trại tù, nơi rừng sâu núi thẳm,
trên biển khơi mênh mông.
33
năm văn minh xã hội chủ nghĩa thụt lùi, đạo
đức suy đồi, đầy dẫy những tệ đoan, tham
nhũng, ăn chơi, đĩ điếm đồi trụy trong cuộc
sống hiện nay ở trong nước.
33
năm hàng vạn những người con gái Việt phải đi làm
vợ làm đầy tớ xứ người, lũ lượt
khắp nơi người dân Việt phải đi làm lao công, tôi
mọi, làm nô lệ xứ người, những xứ mà
trước năm 75, thua kém, chậm tiến lạc hậu hơn
miền Nam Việt Nam.
33
năm, người dân Việt trong nước lẫn hải
ngoại vẫn phải nặng trĩu hoài vọng tự
do, dân chủ, phú cường, niềm hoài vọng xa tầm tay
với khi vẫn còn tập đoàn thống trị Cộng
Sản, cai trị bằng công
an, nhà tù.
33 năm người Việt lưu vong vẫn còn
phải trầm tư hướng vọng về quê hương với tủi
hận, xót xa, thương phận nước long đong đầy ắp
oan khiên.
33
năm kết thúc một cuộc chiến, đất nước không
còn chia đôi bằng tên gọi, chính quyền, trên bản
đồ, nhưng thực tế, dân Việt vỡ ra thành
nhiều mảnh phiêu dạt khắp nơi trên thế
giới. Không còn tiếng súng nhưng thù xưa vẫn
còn, chiến tranh không còn bằng súng đạn nhưng
chiến tranh vẫn tiếp diễn, không chỉ ở
trong nước mà cả ở khắp nơi hải ngoại có
người Việt sinh sống. Chiến tranh vẫn còn
giữa người Việt quốc gia và Cộng Sản,
giữa người dân trong nước đang đòi tự do dân
chủ với tập đoàn cai trị,
với đảng cộng sản. Chiến tranh chỉ
thật sự chấm dứt khi đảng Cộng Sản
bị khai tử và Việt
*
33 năm làm người
tị nạn.
Tôi là người tị nạn, đúng nghĩa của
một người tị nạn, nếm đúng mùi vị
đắng, chát của thân phận tị nạn. Tôi
đến xứ sở này, thành phố này không tính toán, không
chọn lựa 33 năm về trước, khi gần đến
tuổi 30 với độc nhất một bộ quần áo
lính màu xanh hải quân đã bạc mầu, không lon lá huy
hiệu, nó chỉ khác với quần áo thường vì có
hai túi trước và có cầâu vai. Chân đi đôi dép
Nhật đã mòn quẹt vì lê lết trong các
trại tị nạn. Trong túi không có
lấy một đôla. Tôi đến đây không
được đón tiếp ở phi trường chờ lấy hành
lý như những người tị nạn sau này. Không được nghe lời chào hỏi bằng
tiếng Việt. Và, cả mấy tháng
sau tôi vẫn còn thẫn thờ, câm lặng, bậm
môi chịu đựng nhát búa khốc liệt của định
mệnh. Tôi mất tất cả những gì
đã có trong cuộc đời, nghề nghiệp, cấp
bậc, tương lai ... và khởi đầu cuộc đời như
một đứa bé mới bập bẹ tập nói, tập
đi. Tôi đến đây đơn độc, để lại vợ và hai con
còn bé nhỏ nơi quê nhà, lúc bấy giờ, nơi ấy, nơi
này giống như âm dương cách trở, mờ mịt, bít bùng tin
tức và, ngày ấy ai cũng nghĩ là vĩnh viễn
không có ngày gặp lại như những người di cư vào Nam năm
1954 bỏ lại người thân ngoài Bắc. Chung quanh tôi lúc
ấy, cái gì cũng xa lạ, tôi không thể ngày nào
cũng ăn nhạt nhẽo miếng sandwich, trứng,
thịt, hot dog, hamburger. Tôi thèm một bát cơm
với chén nước mắm chanh ớt, ước muốn
một đĩa rau muống luộc, thèm một lát cá kho ...
mong tìm được một người Việt để chào
hỏi, để tâm sự bằng tiếng Việt.
Những ngày đầu tị nạn, tôi cô đơn lầm
lũi trong gia đình một người Mỹ khá giả
ở một khu rất sang trọng của thành phố,
mặc dù hai vợ chồng này tôi đã quen biết
từ trước, người sĩ quan cố vấn của tôi
khi còn phục vụ tại Việt
Tôi ngỡ ngàng sao đường
phố ở Mỹ im vắng, không có người đi bộ.
Tôi đi suốt một ngày trên xe Bus, từ sáng sớm đến
tối khuya, chuyển hết xe này đến xe khác, dò
theo những tuyến đường trên bản đồ lộ
trình, thành phố sao rộng lớn mênh mông, lẫn
lộn cả với đồi, núi, rừng cây ... tôi ngóng
nhìn khắp phía để hy vọng tìm được
một người Việt Nam ...
*
Những kẻ
phản bội.
33
năm ở thành phố này, tôi được cái hân hạnh làm
người đến trước tiếp đón nhiều người
đến sau, được nhìn những nét mặt tị
nạn còn xạm đen khắc khổ ngơ ngác của
những đợt thuyền nhân đến từ các trại
tị nạn Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương. Rồi đến
những đợt HO, những đợt đoàn tụ cha con,
chồng vợ ... Những người tị nạn đến
sau đều có thân nhân, bạn bè, đồng hương người
Việt ra tận phi trường tiếp đón, hôm trước hôm sau
đã vui vẻ, cười nói tiếng Việt ồn ào, có
tiệc tiếp đón dù sơ sài, có phở, có bún bò Huế,
có bánh xèo, bánh cuốn và mau chóng hội nhập nếp
sống rất Việt Nam giữa lòng xứ sở
Hoa Kỳ ...
Tôi nhắc đến kỷ niệm chuyện tị
nạn của tôi ở đây để trần tình với
những người có ý nghĩ là đến sau thiệt
thòi, trâu chậm uống nước đục. Sau cái
mốc thời gian 30 tháng tư, không có cái buồn nào hơn hay kém
cái buồn nào, và người tị nạn đến trước,
đến sau chưa biết ai buồn, ai khổâ hơn ai ... !!
Tôi
muốn nhắc đến những ngày đầu tị nạn
của mọi người vì hôm nay, quanh tôi đã có
nhiều người làm bộ quên, hay cố tình quên quá
khứ tị nạn, quên đi những con thuyền mong manh
trên sóng biển, quên đi những ê chề nhục nhã
với cướp biển, hải tặc, quên những ngày tù
đầy cộng sản, quên những cán bộ quản giáo
ngu dốt nhưng có quyền lên mặt dậy bảo, quên
những ngón đòn thù, những báng súng nện lên thân
thể.
Những gì đau khổ trong quá khứ cũng nên
bỏ lại cho quá khứ để sống với hiện
tại và tương lai, quên được là điều đáng mừng nhưng
đừng quay lưng trở mặt với chính nghĩa quốc
gia, cuộc chiến chống cộng vẫn còn,
người Việt cả ở trong nước lẫn hải
ngoại vẫn đang phản kháng, chiến đấu để
đạp đổ chế độ Cộng Sản, đòi tự
do, dân chủ, đòi hỏi chính quyền CS phải
bảo toàn lãnh thổ đừng âm mưu, lén lút dâng đất
dâng biển cho Tầu Cộng.
Quên
quá khứ tị nạn cũng được, nhưng đừng làm
cản trở, đừng tiếp sức cho Cộng Sản
trong cuộc chiến đòi tự do, dân chủ cho quê
hương, đừng phản bội xương máu chiến sĩ đã
hy sinh cho cuộc chiến vì tự do chống giữ
miền Nam chống lại sự xâm lăng của Cộng
Sản.
Tôi
muốn nhắc lại chuyện tị nạn vì hôm
nay quanh tôi, những người chỉ mới đây, như mới
ngày hôm qua đến xứ sở này còn ngơ ngác xin làm
người tị nạn Cộng Sản mà hôm nay đã xuênh
xoang áo gấm về làng, hưởng thụ, huênh hoang với
hai chữ Việt Kiều.
Có những người, những đảng phái vì
ham danh hám lợi còn quay về hợp tác, bênh vực
cho cái chế độ CS tàn ác.
Có những con buôn, những nhà báo đốn
mạt, chỉ vì vài trăm bạc, vài chục bạc
trả cho một cái quảng cáo thương mại hàng tháng trên
những tờ báo chợ mà bán rẻ lương tâm, trơ trẽn
tuyên truyền, ca ngợi Cộng Sản. Tôi đã
nhìn một người chủ báo mà nghĩ thầm “Cái
mặt này, cái con người này chỉ đáng giá từ năm
chục đến một trăm”.
*
Đoản khúc
buồn viết cho ngày 30 tháng 4. (30 tháng 4 2006 COV -
71)
Hôm nay 30 tháng tư, 31 năm trôi qua, quá khứ như thật
gần và nỗi đau uất hận vẫn còn đó.
Ngày này năm xưa, tôi đang trên chiến hạm.
Chiến hạm vẫn hùng dũng, mây trời cũng
thế, biển Việt Nam vẫn mầu xanh thẫm, nhưng
tôi như cái xác không hồn ... Trước đó vài hôm, chiến
hạm từ ngoài Trường Sa, hai máy tiến “full” chạy
về, mọi người trên chiến hạm lặng lẽ,
âm thầm, vì biết có biến cố lớn đang
xẩy ra trên bờ, mỗi người có nỗi lo, nỗi
suy tư riêng. Suốt ngày tôi loanh quanh trên đài chỉ huy, trong
phòng chiến báo để dò tin tức dù không
phải là phiên trực. Lệnh lạc
bất nhất, thay đổi, khi thì chuẩn bị pháo
lên đảo Phú Quý ngoài khơi Phan Thiết, rồi lại
bị đuổi đi. Khi thì lệnh pháo
phi trường Hàm Tân, khi thì không. Ban đêm “công voa”
Việt Cộng bật đèn sáng chưng, xe chạy hàng dài theo
hương lộ 1 ven biển, xuôi Nam về hướng Vũng
Tầu, có lệnh cho các chiến hạm gần đó gom
lại để hải pháo, rồi lại không cho nữa!
Đến khi chấm tọa độ pháo lên chợ Bà Rịa,
pháo cầu Cỏ May tôi biết là ... hết rồi! Cho đến khi nghe được lệnh đầu hàng trên
máy truyền tin, tôi bất động như ngừơi chết
đứng. Sau cùng, con tầu bỏ nước ra đi, tôi
thuỷ táng cuộc đời ... hình ảnh, thư từ,
kỷ niệm, quân phục và mộng ước của
một đời, được gói gọn trong lá cờ vàng, chôn sâu
xuống lòng đại dương ... Tôi mang đời lưu vong.
Người tị nạn đơn độc, cô đơn.
Hôm nay 30 tháng 4, ba mươi mốt lần rồi, tôi
vẫn ở thành phố này. Cuộc đời có thay
đổi từng năm, hy vọng trong tôi, của tôi về
đất nước quê hương Việt
Hôm
nay 30 tháng tư, vẫn như mọi năm, tôi ra với tổ
chức cộng đồng người Việt để phất
ngọn cờ vàng, để nghe hùng ca lính, để tưởng
nhớ những người đã chết, để chửi
rủa uất hận về một chế độ đã
gây tang thương cho đất nước. Những
người quanh tôi từ 31 năm về trước mỗi năm
một già nua tiều tuỵ, tóc bạc hơn xưa và thiếu
vắng dần. Tôi yêu thành phố này và
nhưng người thân quen đã từ lâu.
Năm
nay 30 tháng 4, San Diego buồn hơn mọi năm, vắng hơn
mọi năm, vì trong cùng
một thành phố, lần đầu tiên có đến 2 nơi tổ
chức 30 tháng 4, tôi mường tượng là mình thua
trận thêm một lần nữa, cũng lại thua trên
đất Mỹ. Ngày xưa thua vì bọn phản chiến. Bây giờ phản chiến không còn nữa,
nhưng có bọn phản bội, tráo trở mưu mô. Tôi xin
mọi người quanh tôi, bạn tôi, hãy sáng suốt
nhận định kẻ thù, nhìn rõ mặt bọn
tráo trở lừa bịp.
Bảo vệ lá cờ vàng nhưng phải thận
trọng, bọn Cộng Sản nằm vùng, bọn
thời cơ tráo trở, băng đảng bịp bợm cũng đang
phất lá cờ vàng, bởi vì:
-
Người ta bắn con chim Trĩ thì dùng con chim Trĩ
làm mồi. Người săn hươu thì dùng con Hươu làm mồi.
Đôi khi tôi thấy mệt mỏi, có lúc chán
chường, chỉ muốn làm một người Việt
thầm lặng sống trên đất Mỹ này. Quên đi đất nước Việt
Không
biết tôi, chúng tôi, còn đủ kiên cường, đủ
sức lực, còn nuôi sống Con Ong Việt đến
bao giờ...!
Vũ Lâm