NGÀY HOÀNG SA
Luật Sư Nguyễn Hữu
Thống
(Bài Thuyết
trình tại
Hôm nay chúng ta tập hợp nơi
đây để kỷ niệm trận Hải Chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974. Trước đó một năm, tháng 1-1973, hai nước Việt Nam
Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
đã ký Hiệp Định Hòa Bình Paris
với sự tham dự và bảo lãnh của 14
quốc gia trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ và Trung
Quốc. Các quốc gia kết ước và
bảo lãnh cam kết tôn trọng quyền dân tộc
tự quyết của nhân dân Việt
Vậy mà, một năm sau, khi
Hiệp Định Paris còn chưa ráo mực, bỗng dưng vô
cớ, ngày 19-1-1974 Trung Quốc đem quân xâm chiếm 6 đảo
Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm (Nguyệt Thiềm) phía
Tây Nam.
Sau Thế Chiến II, tháng 8-1945
khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh, quân đội Trung
Hoa kéo sang giải giới quân đội Nhật và đã
thừa cơ chiếm 7 đảo Hoàng Sa
thuộc nhóm An Vĩnh (Tuyên Đức) phía Đông Bắc.
Trong trận Hải Chiến
Hoàng Sa, Hải Quân
Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến
đấu để bảo vệ chủ quyền lãnh
hải. 58 chiến sĩ đã hy sinh trong đó có Trung Tá
Ngụy Văn Thà là người đã từ chối di tản
để ở lại tuẫn tiết cùng chiến hạm theo truyền thống hào hùng của hải
quân.
14 năm sau, tháng 3-1988, bỗng dưng
vô cớ, Trung Quốc lại đem quân xâm lăng
vùng biển Trường Sa và đã chiếm 2 đá nổi và 6 đá
chìm.
Trong trận Hải Chiến
Trường Sa, 74 chiến sĩ hải quân
Việt
Vả lại Trung
Quốc cũng không dám cạn tàu ráo máng. Vì
còn muốn lưu giữ chút nhân tình để hy
vọng thực thi kế hoạch đánh cá chung và khai thác dầu khí chung
tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa (riêng) của Việt
Trước đó, ngay
từ 1946 Trung Quốc đã đặt tên vùng Biển Nam
Hải là Đặc Khu Hành Chánh Hải
Mới đây Trung Quốc loan báo
thành lập Huyện Tam Sa tại đảo
Hải
Đây chỉ là
một chiến dịch hỏa mù. Vì từ 1946,
như đã trình bày, Trung Hoa đã thành lập Đặc
Khu Hành Chánh Hải Nam nói là để quản trị toàn
thể vùng Biển Nam Hải từ Việt Nam qua Nam Dương,
Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân. Chúng ta
sẽ trở lại vấn đề này.
I. CÔNG ƯỚC LIÊN HIỆP
QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982
Trong thập niên
1960 cuộc Cách Mạng Văn Hóa đã phá nát Trung Hoa về
văn hóa, đạo lý, kinh tế và nhân sự.
Qua thập niên 1970,
Trung Hoa bắt đầu phục hồi. Được gia
nhập Liên Hiệp Quốc thay thế Đài Loan năm 1971, Trung
Hoa nghiễm nhiên trở thành một ngũ
cường, hội viên thường trực của Hội
Đồng Bảo An có quyền phủ quyết. Sau cái chết của Mao Trạch Đông năm 1976, và
với sự thiết lập bang giao với Hoa Kỳ năm
1979, Trung Hoa hội nhập vào cộng đồng thế
giới. Từ đó, về mặt kinh tế, với
chính sách “mèo đen mèo trắng”, Đặng Tiểu Bình
đã từ bỏ xã hội chủ nghĩa để
theo chủ nghĩa thực dụng.
Năm l982 phái đoàn Trung
Hoa đến
Ký xong, Bắc Kinh mới
thấy lo! Ký Công Ước thì phải theo Công Ước. Những điều khoản
trong Công Ước đã quá rõ rệt: Các quốc gia
duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải
lý vùng Đặc Quyền Kinh Tế đánh cá từ bờ
biển. Vùng này trùng điệp với Thềm
Lục Địa 200 hải lý để khai thác dầu khí.
Trong khi đó, Hoàng Sa cách bờ
Biển Trung Hoa tới 270 hải lý và Trường Sa cách
Hoa Lục hơn 750 hải lý. Do đó Hoàng Sa
và Trường Sa không thuộc chủ quyền lãnh
hải của Trung Hoa.
Chiếu Công Ước về
Luật Biển 1982, các quốc gia duyên hải có chủ
quyền lãnh hải tại:
- Biển Lãnh
Thổ (
- Vùng Đặc Quyền
Kinh Tế 200 hải lý (370 km) để đánh cá tính từ
đường căn bản (Exclusive Economic Zone, 200-mile fishery zone).
Tại vùng này các quốc gia duyên hải có đặc quyền
đánh cá, nhưng cũng có nghĩa vụ phải bảo tồn
ngư sinh, và nếu cần, chia sẻ phần tôm cá không khai
thác hết cho các quốc gia kế cận không có bờ
biển (như Ai Lao).
- Thềm Lục
Địa (Continental Shelf) để khai thác dầu khí cũng dài
200 hải lý và trùng điệp với Vùng Đặc
Quyền Kinh Tế đánh cá.
Khác với vùng đặc quyền
kinh tế đánh cá, chiếu Điều 77 Luật Biển,
Thềm Lục Địa thuộc chủ quyền tuyệt
đối của quốc gia duyên hải trong việc khai thác
dầu khí.
Quyền này không tùy thuộc vào
điều kiện chiếm cứ (occupation) hay công bố
(proclamation). Do đó việc Trung Quốc chiếm cứ
một số đảo cồn đá bãi tại Hoàng Sa và Trường Sa không có tác dụng tước
đọat chủ quyền của Việt
Ngoài ra, chiếu Điều 76
Luật Biển, các quốc gia duyên hải có quyền
mở rộng Thềm Lục Địa Pháp Lý 200 hải
lý thành Thềm Lục Địa Địa Lý (hay
Nền Lục Địa: Continental Margin) dài tới 350 hải
lý (648km), nếu về mặt địa hình, đáy
biển là sự tiếp nối tự nhiên của thềm
lục địa từ đất liền ra ngoài biển (như
trường hợp Việt Nam).
Như vậy: Các đảo Hoàng Sa thuộc Thềm Lục Địa 200 hải
lý của Việt
Hơn nữa, về mặt
địa hình đáy biển, độ sâu nhất tại Hoàng Sa là 900m. Đây là những hải đảo hay
bình nguyên của Thềm Lục Địa Việt
Trong khi đó từ Hoàng Sa về Lục Địa Trung Hoa phải qua
một rãnh biển sâu tới 2,500m. Như vậy các
đảo Hoàng Sa không phải là sự
tiếp nối tự nhiên của Thềm Lục Địa
Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển.
Tại Trường Sa
cũng vậy. Tại bãi dầu khí Thanh Long-Tứ
Chính biển sâu không tới 400m, và trong vùng Đảo Trường
Sa (do Việt Nam chiếm cứ) độ sâu chỉ tới
200m. Bãi Tứ Chính cách bờ biển
Việt
Như vậy, về mặt pháp
lý, theo Tòa Án Quốc
Tế và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật
Biển, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về phía
Tây Biển Đông Nam Á thuộc chủ quyền lãnh
hải của Việt Nam.
II. BIỂN LỊCH SỬ HAY
LƯỠI RỒNG TRUNG QUỐC
Đuối lý về mặt
luật pháp, Trung Quốc tung ra chiến
dịch hỏa mù với huyền thoại Biển Lịch
Sử Trung Hoa mệnh danh là Lưỡi Rồng Trung Quốc.
Từ 1983 Bắc Kinh tập
hợp 400 học giả Trung Quốc ngày đêm nghiên cứu
thảo luận trong 10 năm để kết luận rằng Nam
Hải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa. Rồi họ hội nghị với 100 học
giả Đài Loan để xác nhận điều này.
Lưỡi Rồng Trung Quốc
không chỉ bao gồm các quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa về phía Việt
Lưỡi Rồng Trung Quốc
nằm sát bờ biển Việt Nam, cách Quảng Ngãi
40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý, cách
Sarawak (Mã Lai), Brunei và Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải
lý. Nó chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là
Bãi Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Bãi
Natuna của Nam Dương và Bãi Cỏ Rong (Reed Bank) của
Phi Luật Tân. Nó chiếm hơn 80% Biển Đông
Nam Á.
Năm 1992, Trung Hoa vẽ lại
bản đồ và đòi chủ quyền lãnh hải
toàn vùng biển Đông Nam Á. Họ coi biển Đông Nam Á (hay Nam
Hải) là biển lịch sử của họ. Cũng như hơn 2000 năm
trước đây, Đế Quốc La Mã gọi Địa Trung
Hải là “biển của chúng tôi” (mare nostrum).
Địa Trung Hải là một
biển rất lớn chạy từ bờ biển Tây Ban
Nha qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Do Thái
đến Ai Cập và toàn vùng biển Bắc Phi. Nó rộng gấp mấy chục lần bán
đảo Ý Đại Lợi nơi Đế Quốc La Mã
đặt thủ đô.
Về yêu sách Biển Lịch
Sử của Trung Quốc, các luật gia tại Viện
Hải Học Đông Tây Hawaii phải kêu lên rằng: “Không có
nguyên tắc pháp lý hay điều khoản nào trong Công
Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển cho phép
Bắc Kinh đòi như vậy!”
Thật vậy, ngày nay về
mặt pháp lý, Luật Biển và Tòa Án Quốc Tế đã bác bỏ thuyết
Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc
của Bắc Kinh.
Theo Tòa Án
Quốc Tế, Biển Lịch Sử chỉ là Nội
Hải.
Theo Điều 8 Công Ước Liên
Hiệp Quốc về Luật Biển: “Biển Lịch Sử hay nội
hải của một quốc gia, nằm trong đất
liền, về phía bên trong đường căn bản của
Biển Lãnh Thổ.” (The International Court of Justice has
defined historic waters as internal waters. Waters on the landward side of the
baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State:
Article 8 LOS CONVENTION l982).
Như vậy, nếu Địa Trung
Hải không phải là Biển Lịch Sử của Đế
Quốc La Mã, thì Biển Nam Hoa cũng không
phải là Biển Lịch Sử của Đế Quốc
Trung Hoa. Cả hai đều là ngoại hải,
và cách La Mã và Lục Địa Trung Hoa hàng ngàn cây số.
Và công trình 10
năm nghiên cứu của 500 học giả Trung Hoa chỉ là
công “dã tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà
chẳng nên công cán gì!”
III. THUYẾT THỦ ĐẮC
CHỦ QUYỀN
Đuối lý về mặt pháp
lý và thất bại trong thuyết Biển Lịch
Sử, Trung Quốc đưa ra thuyết Thủ Đắc Chủ
Quyền, thủ đắc do khám phá và thủ đắc do
chiếm cứ.
1)
Thủ đắc do khám phá (discovery)
Theo Bắc Kinh, từ trên 2000
năm nay, dưới đời Hán Vũ Đế (Thế Kỷ
thứ 2 trước Công Nguyên), 100 ngàn hải quân Trung Hoa
tuần hành tại Nam Hải đã khám phá các hải
đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Và trong Thế Kỷ 15, dưới
đời Minh Thành Tổ, hải quân Trung Hoa đã đi tuần
thám từ Biển Nam Hải đến Ấn Độ Dương
để tuyên dương công đức vua nhà Minh. Do sự khám phá này
Trung Quốc đã thủ đắc chủ quyền về
các hải đảo này.
Sự kiện này
không thể kiểm chứng được.
Trước hết
không có tài liệu khách quan nào cho biết có sự tuần
thám của hải quân Trung Hoa tại các đảo san hô tí hon
tại Nam Hải.
Lịch sử chỉ thấy
ghi 100 ngàn quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi xâm
chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du đánh tan trong trận
Hải Chiến Xích Bích.
Và dưới đời Minh Thành
Tổ, các đội hải quân yểm trợ và tiếp
viện cho Vương Thông đã bị Lê Lợi đánh tan trong vùng
sông biển Việt
Trong Bình Ngô Đại Cáo,
Nguyễn Trãi viết: “Hai mặt cứu binh, cắm
đầu chạy trốn, các thành cùng khấu, cởi giáp quy
hàng. Bắt tướng mang về, nó xin phục
tội. Thể theo lòng
Trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh.
Cấp cho Mã Kỳ, Phương Chính 500 chiếc thuyền, ra
đến Biển Đông chưa thôi trống ngực; phát vài ngàn
cỗ ngựa cho Vương Thông, Mã Anh, về đến
đất Tàu còn đổ mồ hôi. Nó đã
sợ chết cầu hòa, ngỏ lời thú phục,
ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi.
Giang sơn từ đây mở mặt, xã
tắc từ đây vững bền. Nhật
nguyệt hối mà lại minh, càn khôn bĩ mà lại thái.
Là nhờ Trời Đất Tổ Tông khôn thiêng che chở giúp
đỡ nước ta vậy....”
Những chiến thắng
của Lê Lợi cho biết, đời Minh Thành Tổ,
những đoàn hải quân Trung Hoa tuần thám tại Nam
Hải chỉ nhằm thôn tính Việt Nam và Chiêm Thành.
Chứ không phải để thám sát và khám phá các đảo san hô
tại Biển Đông.
Vả lại
kẻ khám phá không nhất thiết là kẻ sở hữu.
Từ 1969, Hoa Kỳ đã khám
phá mặt trăng, treo cờ, lấy đá, chạy xe
thử nghiệm và chiếm cứ tượng trưng nhiều
lần. Nhưng không phải vì các hành
động này mà Hoa Kỳ có thể tuyên bố “mặt trăng
thuộc chủ quyền không gian của Hoa Kỳ”.
Cũng trong Thế Kỷ 15, các
nhà thám hiểm hàng hải quốc tế như Christopher Columbus
đã khám phá Mỹ Châu; Vasco de Gama đã khám phá Mũi
Hảo Vọng tại Phi Châu và các hoang đảo tại
Ấn Độ Dương; Magellan đã đi xuyên dương, từ Đại
Tây Dương vượt Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, khám
phá quần đảo Phi Luật Tân và hải đảo Guam. Vậy mà Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng không
đòi chủ quyền các lục địa, hải đảo
và quần đảo này.
2)
Thủ đắc do chiếm cứ (occupation)
Theo Công Pháp Quốc Tế,
muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ
(terra nullius), sự chiếm cứ phải có những
đặc tính sau đây:
a) Chiếm
cứ hòa bình
Không có sự chối cãi
rằng, trong những năm 1974 và 1988, Trung Hoa đã dùng
võ lực chiếm cứ một số hải đảo
Hoàng Sa thuộc nhóm Lưỡi Liềm và một số đá
bãi tại Trường Sa.
Sự chiếm cứ không có
tính hòa bình mà do xâm lăng võ
trang. Sự chiếm cứ bằng bạo hành
không được luật pháp bảo vệ. Cũng như
thời Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản
đã chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ
lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.
b) Chiếm
cứ liên tục và trường kỳ
Trung Hoa không mang lại bằng
chứng nào cho biết họ đã liên tục chiếm
cứ Hoàng Sa, Trường Sa từ đời
Nhà Hán hay ít nhất từ đời Nhà Thanh.
Sau Thế Chiến II, khi quân
đội Nhật Bản rút lui vào cuối năm 1945, Trung Hoa
mới chiếm một số đảo Hoàng Sa thuộc nhóm An
Vĩnh (Amphitrite) phía đông bắc.
Năm 1974 họ đã xâm lăng võ trang để chiếm nốt các
đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm (Crescent) về
phía tây nam.
Tại Trường Sa, Trung Hoa thú
nhận rằng, lần đầu tiên, năm l988, họ đã
chiếm cứ một số đá bãi (bằng võ
lực). Sự chiếm cứ này vô hiệu
vì không có tính hòa bình. Vả lại
tới 1974 và 1988, các đảo Hoàng Sa-Trường Sa
đã do Việt
c) Hơn nữa sự chiếm cứ không
được thừa nhận bởi các quốc gia liên hệ.
Năm l951, tại Hội Nghị
Hòa Bình San Francisco, 51 quốc gia đồng minh
ký Hiệp Ước Tái Thiết Nhật Bản, theo đó
Nhật từ bỏ chủ quyền tại Hoàng
Sa-Trường Sa, nhưng không nói để trả cho nước nào. Đại biểu Liên Xô yêu cầu Hội Nghị
biểu quyết trả cho Trung Hoa. Nhưng
Hội Nghị đã bác bỏ đề nghị này với
46 phiếu chống. Sau đó, Thủ Tướng Trần Văn
Hữu, Trưởng Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam, lên diễn
đàn minh thị công bố chủ quyền của Việt Nam
tại Hoàng Sa-Trường Sa, và không gặp sự phản
kháng nào. (Ngày 8-3-1949 Pháp đã ký Hiệp
Định Élysée để trao trả chủ quyền độc
lập và chủ quyền lãnh thổ cho Quốc Gia
Việt Nam).
Vả lại,
sự thừa nhận chủ quyền hải đảo
chỉ có nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia
duyên hải đối diện hay tiếp cận. Vì
Hoàng Sa, Trường Sa tọa
lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông
Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho
đến nay tất cả các quốc gia Đông Nam Á không một
nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung
Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.
IV. 10 TIÊU CHUẨN PHÂN RANH HẢI
PHẬN
Trong phạm vi điều giải
và tố tụng, Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa,
Tòa Án Trọng Tài về
Luật Biển và Tòa Án Quốc Tế đưa ra 10 tiêu chuẩn để giải
quyết vấn đề phân ranh hải phận hay đồng
hóa hải đảo vào lục địa của quốc gia duyên
hải kế cận.
1) Vị
trí của các đảo đối với bờ biển tiếp
cận. Tại vùng quần đảo Hoàng Sa, đảo Hoàng Sa
chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý, và
cách Lục Địa Trung Hoa tới 270 hải lý. Tại
bãi biển Trường Sa, bãi thanh Long, Tứ Chính
chỉ cách bờ biển Việt Nam 190 hải lý,
trong khi đảo Trường Sa cách Hoa Lục hơn 750 hải ly. Do
đó Việt
2)
Diện tích các hải đảo so sánh với chiều dài
bờ biển tiếp cận.
Đảo Trường Sa (0.13 km2), và Hoàng
Sa (0.56km2) quá nhỏ bé chỉ bằng 1/1000 đảo Phú
Quốc (568km2), nên được đồng hóa vào lục địa
Việt
3) Về
độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo, cồn,
đá, bãi Hoàng Sa và Trường Sa là sự tiếp nối
tự nhiên của Thềm Lục Địa Việt Nam từ
đất liền ra ngoài biển.
Độ
sâu nhất tại Hoàng Sa là 900 m và tại Trường Sa là 400
m. Trong khi đó, từ Hoàng Sa và
Trường Sa về Hoa Lục có 2 rãnh biển sâu
tới 2500 m và 4600 m.. Như vậy Hoàng Sa và Trường Sa không
phải là sự tiếp nối tự nhiên của thềm
lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài
biển.
4) Tại Hoàng Sa, về
mặt địa chất, năm 1925, sau 2 năm nghiên cứu, đo
đạc và vẽ bản đồ, Tiến Sĩ Khoa Học A.
Krempt, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, xác nhận
rằng “về mặt địa chất, các đảo Hoàng Sa là
thành phần của Việt Nam”. (Geologiquement les Paracels font
partie du Vietnam). Một số học giả Pháp khác như
Olivier Saix năm 1933, và Marcel Beauvois năm 1971, cũng xác nhận
điều đó.
5) Về dân số, các
hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa quá nhỏ bé, không có
thường dân cư ngụ và không thể tự túc về kinh
tế. Trong khi đó số dân cư ngụ tại miền bờ
biển Việt Nam đông gấp 10 lần số dân sinh
sống tại đảo Hải Nam. Chiếu Điều 121
Luật Biển, Hoàng Sa Trường Sa không được hưởng
quy chế 200 hải lý để đánh cá và khai thác dầu
khí.
6)
Về khí hậu và sinh thực học, tại Hoàng Sa và Trường Sa, các
đảo san hô cũng như cây cỏ và sinh vật tiêu biểu cho
vùng nhiệt đới Việt Nam, chứ không thấy ở
vùng ôn đới Trung Hoa.
7) Về Khu Đặc
Quyền Kinh Tế để đánh cá, Biển Đông với Hoàng Sa
và Trường Sa là khu vực đánh cá căn bản của Việt
Nam. Trong khi đó, ngoài hải
phận về phía Tây, Đảo Hải Nam còn được
thêm 200 hải lý để đánh cá về phía Đông thông ra Thái
Bình Dương. Vả lại Trung Hoa còn có biển Hoàng
Hải và Đông Trung Quốc Hải thông ra Thái Bình Dương.
8)
Tại Thềm Lục Địa Việt Nam những vùng
có nhiều dầu khí nằm tại giữa lòng
biển Vịnh Bắc Việt và tại khu bãi Thanh
Long-Tứ Chính phía Đông Nam Cà Mau.
Đây là nơi kết tầng các thủy tra thạch
chứa đựng các chất hữu cơ do nước phù sa Sông
Hồng Hà và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á,
từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra biển từ hàng
triệu năm nay. Trong khi đó tại Biển Đông, không có con sông
lớn nào từ lục địa Trung Hoa hay từ đảo
Hải Nam chảy ra biển. Do đó dầu khí nếu có là do
các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam
chứ không phải từ Hoa Lục. Hơn nữa, ngoài
hải phận về phía Tây,
Đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải
lý thềm lục địa để khai thác dầu khí
về phía Đông thông ra Thái Bình Dương.
9)
Biển Đông với Hoàng Sa, Trường Sa có ảnh
hưởng kinh tế, chiến lược và quốc phòng
mật thiết với Việt Nam hơn là Trung Hoa. Vì
Trung Hoa còn có biển Hoàng Hải và Đông Trung Quốc
Hải chạy thông ra Thái Bình Dương.
10)
Các tài liệu, sách báo, họa đồ hay các chứng
tích lịch sử phải có tính xác thực. Dầu sao các
tài liệu này không có giá trị bằng các yếu tố
khoa học như địa lý, địa hình, địa
chất, dân số, khí hậu, sinh thực học, và
những yếu tố đặc thù về kinh tế như đánh cá
và khai thác dầu khí, cũng như các yếu tố về
chiến lược và an ninh quốc phòng.
Về điểm này chúng ta
chỉ viện dẫn một vài tài liệu khách quan do chính
người Trung Hoa biên soạn:
- Theo các học giả Trung Hoa, Biển Nam Hoa hay Nam
Hải là tên biển của miền Hoa Nam, cách Quảng Đông
50 dặm về phía Nam. Các nhà thám hiểm và hàng hải Tây
Phương muốn cho tiện nên gọi đó là Biển Nam Hoa (South
China Sea). (Ngoại nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).
- Theo cuốn Từ Điển Tối Tân Thực Dụng
Hán Anh do các học giả Trung Hoa biên soạn tại Hồng
Kông năm 1971 thì “Nam Hải là vùng biển kéo dài từ Eo
Biển Đài Loan đến Quảng Đông”. (The Southern Sea stretching from the Taiwan Straits
to
- Theo Từ Điển
Từ Hải xuất bản năm 1948 thì “Nam Hải
thuộc chủ quyền lãnh hải của 5 nước
là Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Đài
Loan”. (Đúng ra là Nam
Dương, không phải Đài Loan).
Như vậy nếu
Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn
Độ, thì biển Nam Hoa cũng không phải là
biển của nước Trung Hoa về phía
V. 5 KHUYẾN CÁO VÀ 4 TRỌNG
TỘI
Vì vùng biển này tọa
lạc tại Đông Nam Á nên
trong Bản Phúc Trình năm
1995 gửi 7 vị nguyên thủ quốc gia Khối Asean
(Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á), người viết
đã đề nghị đổi
danh xưng Biển Nam Hoa (South China Sea) thành Biển Đông Nam Á
(South East Asia Sea).
Theo quan niệm “chính quyền
nào rồi cũng tiêu vong nhưng đất nước và dân tộc
thì vẫn còn mãi”,
trong Bản Phúc Trình năm 1995, người viết đã khuyến cáo nhà cầm
quyền Hà Nội thực
hiện 5 việc sau đây:
1)
Trước hết Việt Nam phải nhờ các luật gia và
chuyên gia quốc tế vẽ ranh thềm lục địa
lý (Nền Lục Địa), để yêu cầu Ủy Ban
Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc chấp
thuận cho nới rộng thềm lục địa pháp
lý qua mức 200 hải lý tới 350 hải
lý.
2)
Muốn vậy, Việt
3) Phát triển tối
đa kỹ nghệ đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế
200 hải lý để sử dụng đúng mức, điều
hành và bảo tồn nguồn lợi ngư nghiệp thiên nhiên tại Biển Đông.
4) Vận
động với các quốc gia trong khối ASEAN yêu cầu
đổi danh xưng Biển Nam Hoa thành Biển Đông Nam Á.
5) Đưa
vụ phân ranh hải phận và vấn đề chủ
quyền lãnh hải tại các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ra Ủy Ban Phân Ranh Thềm
Lục Địa, Tòa Án Trọng Tài hay Toà Án Quốc
Tế, nếu cuộc điều giải bất thành.
Từ đó tới
nay đã hơn 12 năm, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn im
hơi bất động. Thậm tệ hơn nữa:
1. Năm 1999, Việt
2. Năm 2000, Việt Nam đã ký
Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ để hiến dâng
một vùng lãnh hải 12,000 km2 nước Biển Đông cho
Trung Quốc.
3. Cũng trong năm này, Việt
4. Và, để có
sự yểm trợ của Bắc Kinh trong kế
hoạch thôn tính Miền
Những hành vi này cấu thành 4
tội phản bội tổ quốc bằng cách “cấu
kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ
quyền quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh
thổ của Tổ Quốc và xâm phạm quyền của
nhân dân được sử dụng đầy đủ những tài
nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước”.
Kể từ tháng 6-2004, khi
Hiệp Định Hơp Tác Đánh Cá có hiệu lực chấp hành
do sự “phê duyệt” của Chính Phủ (thay vì
phải có sự “phê chuẩn” của Quốc Hội), Trung
Quốc đã lấn chiếm các vùng biển Hoàng Sa và
Trường Sa tại Trung Việt (Đà Nẵng, Khánh Hòa)
trong chính sách Vết Dầu Loang.
Đặc biệt là ngày 8-1-2005 tại Vịnh Bắc
Việt, lính tuần duyên Trung
Quốc đã dùng đại liên hạ sát 9 ngư dân, gây thương
tích 7 người và bắt giữ 8 người tại một
vùng biển của Việt Nam. Nạn nhân là những ngư dân Thanh Hóa đi đánh bắt tôm cá tại
miền duyên hải Biển Đông là môi trường sinh sống
đời đời.
Đây không phải là
những hành động tự phát của một số binh
sĩ vô trách nhiệm, mà là cả một chính sách khủng
bố “sát nhất nhân, vạn nhân cụ” (giết một
người khiến hàng vạn người khác phải sợ).
Mục đích để ngăn cấm ngư dân Việt Nam không được
đến đánh cá tại vùng biển sâu, dành cho Trung Quốc
độc quyền đánh cá, thăm dò và khai thác dầu khí
tại Vịnh Bắc Việt và miền duyên hải Trung
Việt.
Do những hành động này Trung
Quốc đã phạm tội cố sát có dự mưu.
VI. ĐIỀU GIẢI VÀ TỐ
TỤNG
Về mặt tố tụng
nhiều người nghĩ rằng Việt
Vấn đề không đơn giản
như vậy.
Trước hết đương đơn phải
là Chính Phủ Hà Nội. Vấn đề là ngày nay Hà Nội có
dám khởi tố Bắc Kinh hay không? Trong
tình trạng hiện tại chúng ta có quyền hoài nghi
điều- này.
Vả lại, theo
Hiến Chuơng Liên Hiệp Quốc, Hội Đồng Bảo An
là một cơ quan tài phán và hành động có nhiệm vụ
bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới. (Các Điều 24 và kế tiếp). Như vậy
chỉ khi nào có những vụ vi
phạm hay đe dọa hòa bình và an ninh thế
giới (như xâm lăng võ trang) thì các quốc gia
hội viên Liên Hiệp Quốc mới có thể đưa vụ
tranh chấp ra trước Hội Đồng Bảo An.
Chúng ta hãy trở lại
vụ Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa ngày
19-1-1974. Ngay ngày hôm sau, 20-1-1974, Chính Phủ Việt Nam
Cộng Hòa đã yêu cầu Hội Đồng Bảo An triệu tập một phiên họp bất
thường để giải quyết vấn đề này. Vì
đây rõ rệt là một vụ xâm lăng
võ trang, vi phạm chủ quyền quốc gia và
chủ quyền lãnh thổ của Việt
Trở ngại
đầu tiên là vấn đề túc số. Muốn
triệu tập một phiên họp bất thường
phải có sự tán thành của quá bán tổng số các
quốc gia hội viên thường trực và không thường
trực (15 nước). Túc số cần có là quá bán
cộng 1 (8 +1 = 9), nghĩa là phải có 9 quốc gia
đồng ý. Tuy nhiên theo sự thăm dò của ông
Chủ Tịch Hội Đồng Bảo An chỉ có 5
nước là Mỹ, Anh, Úc, Ái Nhĩ Lan và Costa Rica tán thành, nên
không đủ túc số. Sau đó Chủ Tịch Hội Đồng
Bảo An gửi văn thư tham khảo ý kiến của
Bắc Việt về vấn đề chủ quyền Hoàng
Sa, nhưng Hà Nội cố ý lẩn tránh, không trả lời.
Dầu rằng đây chỉ là
một giả thuyết- Hội Đồng Bảo An có đủ
túc số để triệu tập phiên họp và tuyên nghị quyết yêu cầu
Trung Quốc triệt thoái khỏi Hoàng Sa, thì nghị
quyết này cũng sẽ không được chấp hành do
quyền phủ quyết của Trung Quốc. Là một trong
5 ngũ cường, hội viên thường trực của
Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, Trung
Quốc có quyền đơn phương hủy bỏ mọi quyết
nghị của Hội Đồng Bảo An mà không cần
viện dẫn lý do.
Về nội dung, căn cứ vào
thủ tục, thẩm quyền của Hội Đồng
Bảo An và thực tế chính trị
hiện nay, đơn khởi tố của Việt
Trên thực tế đơn khởi
tố nặng về tác dụng chính trị. Trong
mọi trường hợp, Chính Phủ Việt
Dầu sao khu hành chánh Tam Sa cũng chỉ là một hỏa mù. Vì
sau khi công bố thành lập huyện Tam Sa,
Bắc Kinh lại chỉ thị cho hội đồng nhân dân
địa phương không ghi vấn đề này vào chương trình
nghị sự. Mục đích để xoa dịu đấu tranh, cho
Hà Nội có lý do giải thích xuyên tạc và dối
gạt dư luận rằng Trung Quốc đã nhượng
bộ về vấn đề Hoàng Sa,
Trường Sa. Từ đây Nhà Nước sẽ đàn áp thẳng tay mọi cuộc mít tinh biểu tình
của sinh viên chống chủ nghĩa bá quyềnTrung
Quốc.
Trong khi đó, thay vì phản
kháng Trung Quốc, và công bố chủ quyền của
Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, Đảng và Chính
Phủ lại ủy thác cho một vài cán bộ hành chính
địa phương lên tiếng xác định chủ quyền
lãnh hải của Việt Nam. Đây cũng chỉ là
một chiến thuật hỏa mù để xoa dịu công
phẫn của quốc dân, khiến dư luận ngộ
nhận rằng Đảng Cộng Sản vẫn tha thiết
với tiền đồ dân tộc trong việc bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ.
Do đó khu hành chánh Tam Sa chỉ là hỏa mù lập ra để đánh
lạc dư luận quần chúng. Vì như
đã trình bày, từ 1946, Trung Hoa đã lập
Đặc Khu Hành Chánh Hải
Vấn đề căn bản là
Việt
Trong
điều kiện hiện tại, chúng ta có quyền hoài nghi
việc này.
Vì Đảng Cộng Sản
đi trái quyền lợi của đất nước và tước
đoạt quyền biểu tình của người dân,
quốc dân chỉ còn một cách là đứng làm lịch
sử để thiết lập chính phủ dân cử đủ
tư cách và khả năng đấu lý và đấu pháp với
Bắc Kinh.
Về cả hai
mặt điều giải và tố tụng, Việt
Có điều là từ nay các ngư dân
vùng bờ biển Việt Nam, từ Ninh Bình-Thanh Hóa,
Quảng Bình-Quảng Trị đến Đà Nẵng-Khánh
Hòa v...v... sẽ không còn quyền được sử
dụng các tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của
đất nước.
NGÀY HOÀNG SA
Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG
(Thuyết trình
tại