SINH LỘ CHO QUÊ HƯƠNG
(PHẦN I):
GIẢI TRỪ VĂN HÓA
ÐẢNG, TRỞ VỀ NGUỒN CỘI VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG, DI SẢN VÔ GIÁ CỦA TIỀN NHÂN
Nguyễn Diệp Phong
Các
đảng viên yêu nước hãy mạnh dạn phát động “Phong trào đốt thẻ
Ðảng”,triệt tiêu công lực Ðảng, trước
là giải cứu quê hương, sau là tự độ mình,
thời gian không còn vậy.
Văn Hóa Ðảng
(VHÐ)
Tội
ác của Chủ Nghĩa Cộng Sản (CNCS) rất là kinh
khủng. Trong thế kỷ
XX, ước tính có hơn 100 triệu sinh mạng đã bị
những người cộng sản (CS) trực tiếp
giết (Le Livre Noir Du Communisme: Liên Xô 20 triệu, Trung
Quốc 65 triệu, Bắc Hàn 2 triệu, Cambốt 2 triêu,
Afghanistan 1,5 triệu, Việt Nam 1 triệu, Ðông Âu 1
triệu, Nam Mỹ 150.000). Nếu
kể cả những nạn nhân gián tiếp thì con
số rất là khủng khiếp.
Ở Việt
Do
đó ngày 25 tháng 1 năm 2006 vừa qua, Nghị Hội Âu Châu,
gồm 46 quốc gia, đã thông qua Nghị quyết 1481
với số phiếu áp đảo 99/42, lên án chủ nghĩa
và các chính thể CS, trong dĩ vãng và hiện nay, trong
đó có Việt Nam, đã phạm tội ác chống nhân
loại không thua gì chủ nghĩa phát xít Ðức
Hitler (CNPX). Tập đoàn
lãnh đạo các chính thể nầy phải được đưa
ra xét xử tại tòa án quốc tế.
Thực
ra, bản chất của CNCS còn dã man, kinh
khủng hơn CNPX nhiều, vì đối tượng giết
hại, tàn sát của chúng chính là đồng bào của nó. Ngoài ra
cái tác hại trầm trọng đáng sợ nhất của nó
là sự hình thành Văn Hóa Ðảng (VHÐ),thực
chất là văn hóa nô dịch dối trá, phản dân tộc. Mục đích của nó là phá huỷ
nền Văn hóa Truyền thống (VHTT) của dân tộc
mình; làm biến dị con người trở nên mê
muội mù quáng, vô nhân bản không còn phân biệt
thiện ác, đúng sai theo văn hóa truyền thống, não
trạng như bị đóng băng không bao giờ thay đổi.
VHÐ
và Trung Quốc (TQ)
Năm
1992, Thầy Lý Hồng Chí sáng lập Pháp Luân Công (PLC), một
pháp môn tu luyện ở TQ theo trường phái Phật. Chỉ trong thời gian khoảng 8
năm, có hơn 100 triệu người theo, hơn cả số đảng
viên (70 triệu) trong đó có rất nhiểu đảng viên. Ðảng CS TQ sợ quá ra
lệnh cấm đoán đàn áp rất dã man. Trong bài nói chuyện về đề
tài “Không Làm Chính trị” (Kinh Văn 26/1/2006), Thầy phát
biểu: “Về vấn đề
đảng CS bức hại Pháp Luân Công, thì trong mấy
năm vừa qua vẫn luôn có rất nhiều người TQ, do
không biết rõ chân tượng, nên mới cho rằng
sự bức hại ấy là cần thiết. Nguyên nhân là do đảng, qua nửa
thế kỷ thống trị TQ, đã rót đầy một
bộ VHÐ vào người dân TQ, làm cho người TQ nhìn
vấn đề hoặc suy nghĩ theo VHÐ, không còn
biết đúng sai theo VHTT nữa... Trung
Cộng hôm nay đã rơi vào chỗ hủ bại triệt
để, khủng hoảng bốn bề, cùng đường bế
tắc... Người TQ khi sang
xã hội tây phương, đã không hiểu nổi ngôn
từ hành vi của người TQ; đều cảm thấy
kỳ quái lắm; những ngôn từ hành vi của
những người lãnh đạo TQ khi ra nước ngoài khiến
người phương tây cho là có vấn đề lý trí. VHÐ
đã khiến tư tưởng và văn hóa của TQ trở nên
biến dị đến mức nào... Vì sự biến
dị tư tưởng nầy đã khiến Trung Cộng
dễ dàng tìm được lý do hợp pháp cho các
loại áp chế liên tục lên dân TQ... Ðể
có thể duy trì địa vị thống trị hợp
pháp Trung Cộng lợi dụng và kích động nhiệt
tình yêu nước của người TQ, không ngừng bành
trướng tình cảm yêu nước của người dân,
trở nên nhầm lẫn 'không có đảng cộng sản
thì không có TQ', 'yêu nước là yêu đảng', 'yêu đảng là
yêu nước.' Lừa dối người TQ hết lần
nầy qua lần khác.”
VHÐ
và Việt
a) VHTT Việt
VHTT,
đặc thù của một nền văn hóa có bốn ngàn năm văn
hiến, có đặc điểm yêu nước và tinh thần bất
khuất. Văn hóa nầy là di
sản vô giá của tiền nhân.
Chính nền văn hóa nầy mà tổ tiên ta đã
đập tan tham vọng đồng hóa, thôn tính triền miên của
kẻ thù khổng lồ phương Bắc, công cuộc giải
phóng 1.000 năm Bắc thuộc; và những chiến công
lẫy lừng của Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi,
Quang Trung,... chứng minh hùng hồn dân tộc Việt Nam vô
địch trước mọi kẻ thù.
Đây là chân lý lịch sử.
Trong
thư của Nguyễn Tiến Trung, khi còn là sinh viên
ở Pháp (tgnn169&hotmail.fr), gởi cho thầy Nguyễn
Minh Hiển, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Ðào tạo,
cùng các cấp lãnh đạo Ðảng và Nhà nước có
đoạn: “Văn hóa Việt Nam là
sự tổng hợp tinh hoa của ba hệ tư tưởng
lớn: Phật, Nho, Lão, và sau này có thêm đạo Thiên Chúa. Ðạo Phật với tư
tưởng từ bi, hỉ xả; đạo Nho với Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, và suy nghĩ xả thân cho đất
nước; đạo Lão với tinh thần trung dung, coi
thường danh lợi; và đạo Thiên Chúa với tình yêu
bao la cho con người. Nhưng chủ nghĩa Mác Lênin lại là
bạo lực cách mạng, phải đào mồ chôn người
khác, và phải luôn nuôi trong đầu những ý nghĩ
hận thù. Chúng ta đâu có
xứng đáng là con cháu Nguyễn Trãi “lấy chính nhân
thắng cường bạo” với việc sử dụng
bạo lực để đàn áp người trái ý kiến
với mình.
Ngày 11/09/2001, cả thế
giới bàng hoàng và đau đớn khi hai tòa nhà WTC ở New
York bị tấn công, em đã nhảy lên vui mừng
vì đế quốc Mỹ bị trừng phạt. Tính ác trong người em nổi
dậy, nhưng em lại cho đó là suy nghĩ đúng đắn theo
những gì được dạy dỗ. Ðến bây
giờ em vẫn không hiểu tại sao lúc đó em có thể
suy nghĩ như vậy.” Không biết ông Nguyễn Minh
Hiển cùng các cấp lãnh đạo có ai đọc bức
thư nầy không?
b) VHÐ và miền Bắc Việt
Không
may cho đồng bào miền Bắc, trong đó có những cán
bộ Việt Minh miền
Với
chánh sách nầy, thì không bao lâu, VHTT bị phá sản
trầm trọng. Hầu
hết trí thức, sĩ phu truyền thống, xương
sống sức mạnh của dân tộc bị VHÐ tiêu
diệt và xuất hiện một tầng lớp trí
thức biến dị gọi là trí thức Xã Hội
Chủ Nghĩa (XHCN), với một tinh thần nô lệ
trầm trọng, mất hết nhân phẩm và liêm sỉ (tiêu
biểu là Tố Hữu).
Tuy
nhiên, bên cạnh cái bất hạnh của những đảng
viên miền Nam tập kết ra Bắc là cái phúc của hơn một
triệu đồng bào miền Bắc có điều kiện di cư vào
Nam thoát được VHÐ cho đến năm 1975.
c) VHÐ và miền Nam Việt
May
mắn cho miền
Cũng
chính vì VHTT bất khuất mà rất nhiều quân nhân
đã tự sát khi Dương Văn Minh kêu gọi buông súng, trong đó có
5 vị tướng mà mọi người đều biết là
Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai và
Lê Nguyên Vỹ. Ðể
thấy được tầm vóc lớn lao của VHTT nầy, có
lẽ không gì bằng xem qua 3 cuốn video sau đây. Cuốn thứ nhất về
Biến cố Trần Trường (BCTT), ghi lại cuộc
đấu tranh hết sức hào hùng vào mùa Xuân năm 1999 của
Cộng đồng người Việt tỵ nạn (CÐNVTN) ở
khu Little Saigon, khẳng định sự liều chết ra đi,
tinh thần bất khuất, không đội trời chung
với CS. Khí thế đã làm
chấn động chính trường Mỹ và đã thành công trong
việc hạ lá cờ CS và hình Hồ Chí Minh (HCM). CSVN vô cùng mất mặt. Thế
nhưng thay vì thức tĩnh, lại xuyên tạc, vu
khống mục tiêu đấu tranh là “hận thù quá khứ”
với Công Trình nghiên cứu khá công phu “tìm cội
nguồn hận thù” của ký giả trẻ Phan
Trần Hiếu, đi tìm nguyên nhân hận thù trong gia
phả của Trần Trường tận miền Trung Việt
Nam, khá trơ trẽn. Do biến cố nầy mà đến nay lá
cờ CS không thể xuất hiện nơi công cộng nào,
ngoại trừ tòa đại sứ và lãnh sự CS.
Hai
cuốn kế, “Ba Mươi Năm Nhìn Lại” của Trung tâm
Asia và “Ba Mươi Năm Viễn Xứ” của Trung tâm Thúy Nga, nói lên
thành quả vô cùng hãnh diện của người tỵ
nạn Việt Nam, một bộ phận dân tộc mà
Phạm Văn Ðồng cho là bất lương, trôi dạt về
đâu không cần biết (ý nói sẽ biến mất
với thời gian). Nhưng trái
lại, không những không biến mất mà còn phát
triển lớn mạnh, hình thành gần như trọn
vẹn một nước Việt Nam Tự Do hải ngoại
với VHTT vô cùng ngoạn mục mà chế độ phải
nể sợ.
Bên
cạnh đó, không may cho những đồng bào không đi được,
đành phải chấp nhận cuộc sống dưới VHÐ;
và cuộc sống đó là xã hội Việt
Tâm tình xin chia xẻ với
những đảng viên kỳ cựu
Thưa
quý vị, “sự thật” không thể phủ
nhận, tinh thần yêu nước xuất phát từ VHTT, mà quý vị đã hy sinh vô
bờ bến cho công cuộc giải phóng đất nước khỏi
ách đô hộ của thực dân Pháp, nhằm mục tiêu xây
dựng một nước VN ”Dân Chủ Cộng Hòa,
Ðộc Lập, Tự Do Hạnh Phúc”, một lý
tưởng vô cùng cao đẹp. Thế nhưng “sự thật” ngỡ
ngàng chua chát thế nào xin mạng phép chia xẻ với
quý vị những tâm tình và nhận định
của những đảng viên sau đây:
a. Xin trích một đoạn thư của
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (LS NHT) gửi cho con lúc
lâm chung. NHT là lãnh tụ của Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), một tổ chức có công
đầu đã đưa CNCS lên đỉnh cực thịnh tháng 4 năm 1975.
Do đó ông được cân nhắc lên
chức chủ tịch nước, một chức vụ cao
nhất nước. Thư có đoạn: “Bài
học thất bại trong cuộc đời làm cách mạng
của cha là bài học chọn lầm lý tưởng CS và
chủ nghĩa CS, và sai lầm lớn nhất của cha là
tự nguyện trở thành đảng viên CSVN. Nhưng điều đáng lên án nhất là
tính cách phục tùng đến hèn nhát của cha đối với
những mệnh lệnh phi nhân, bất nghĩa của
tập đoàn lãnh tụ độc tài chuyên chế đã
mất hết tình tự dân tộc.” Rõ ràng ông như bị cấy
“sinh tử phù” VHÐ đã biến ông không còn là ông,
khi phát hiện thì quá trể. Lời sám hối của Ông ẩn
chứa một niềm uất hận vô biên. Vì sao?
Thành
phần dân tộc bị ÐCSVN lừa và phản bội
tàn nhẫn nhất là MTGPMN. Tổ
chức nầy không những có công đầu, mà quan trọng
hơn, không có MTGPMN, CSBV hiện nguyên hình và không thể
chiến thắng được. Ðúng
như Võ Nguyên Giáp thú nhận trong hồi ký viết
năm 1985: “Nếu không có những
hội đoàn như Hội Cựu chiến binh Việt
Ðau
đớn thay, chỉ ba tháng sau ngày chiến thắng, ÐCSVN
giải tán Chánh phủ Lâm thời của MTGPMN; sau đó
giải tán luôn MTGPMN và ra lệnh cho đồng bào miền Nam
bôi xóa hoặc hạ tất cả cờ của MTGPMN, mà trước
đây chúng đã bắt buộc dân sơn lên vách và treo lên
trước nhà trong chiến dịch lấn đất giành dân,
trước khi ngưng chiến.
Thành
phần lãnh đạo MTGPMN, những ai là không phải
đảng viên, sau khi nhận diện ÐCSVN, đều biết
thân và tìm đường trốn chạy sớm. Những ai tưởng bở ở
lại không tránh khỏi học tập tẩy não. Còn thành phần đảng viên
thì chỉ là những chậu kiểng (LS NHT,
Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Ðịnh, BS
Dương Quỳnh Hoa,...) BS Dương
Quỳnh Hoa, vào khoảng cuối thập niên 70, vô cùng
bất mãn nên xin bỏ đảng nhưng không được đảng
chấp thuận, vì sợ đảng viên gốc miền
Nam sẽ bỏ đảng tập thể. Cuối cùng được chấp
thuận nhưng với điều kiện chỉ được công
bố 10 năm sau!
b-
Nhà văn DTH trong cuộc phỏng vấn nói trên ở Pháp cho
biết: “Tháng 5 năm 1975, với
tư cách một nữ cán bộ CS, tôi được vào thăm Sài
Gòn. Trước sự
phồn thịnh của Miền Nam, trong khi tất cả
mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn
hở cười thì phản ứng đầu tiên của
tôi là ôm đầu ngồi khóc bên vỉa hè. Tôi khóc vì Thế giới
Tự do (TGTD) đã khiếp nhược bỏ chạy
trước một thể chế man rợ. Ðảng đã đánh lừa chúng
tôi khi tuyên truyền láo rằng miền Nam là một ổ
đĩ điếm, thối nát, nghèo khổ cùng cực và
thiếu hẳn tự do. Thật sự,
c-
Tiến sĩ Hà sĩ Phu, trong “Biện chứng về
Ngụy biện trong Công cuộc Ðổi mới” (bài II),
viết: “Tôi viết bài này chính
vì mặc cảm tội lỗi, tội lỗi
của cái nhìn của thế hệ, của giống
nòi, mặc cảm bị lưu manh lừa. Những thế hệ con cháu sau
nầy sẽ hiểu chúng ta là những người thế
nào, khi thấy chúng ta đã chung sống với cái phi lí,
với cái lưu manh một cách hòa thuận đến
thế”.
d-
Thực tế trên đây được Trung tướng Trần
Ðộ, có thời là chủ nhiệm Ban Văn hóa Văn nghệ
Trung ương, nhận định trong “Nhật ký Rồng
Rắn”: ”Nói thì dân chủ
vì dân, mà làm thì chuyên chính, phát xít... Chế độ này bắt mọi
người phải đảng trị, bắt trẻ con phải
đảng trị, bắt người già phải đảng
trị... (Họ đã
hình thành một xã hội lừa dối:
Lãnh đạo dối lừa, Ðảng dối lừa,
cán bộ dối lừa, làm ăn giả dối, giáo dục
giả dối, bằng cấp giả dối, đến gia
đình cũng lừa dối, lễ hội lừa
dối, tung hơ lừa dối...”
Thành quả xã hội của
VHÐ
Sau
thời gian dài hơn 60 năm từ ngày HCM du nhập CNCS, sau đây xin
tóm lược “thành quả” nổi bật:
a-
Sau hơn 30 năm thống nhất, dưới sự thống
trị của VHÐ, xã hội Việt
Trong
phần thảo luận của thính giả về bài phỏng
vấn, anh Thu Phong, một cựu du học sinh ở Hoa
Kỳ mười năm trước, hết lời kính phục ông
trước những lời nói vô cùng xác thực và anh rất
thấm thía qua bức thư của mẹ có đoạn: “Con phải tìm cách ở
lại, không nên trở về Việt Nam. Mẹ khuyên con như vậy, không
phải là mẹ muốn cho con có một cuộc sống
vật chất sung túc mà là vì nơi quê hương mình,
mọi hình thức sống đều khởi nguồn
bằng sự dối trá. Những
gì mẹ dạy cho con, tạo cho con nên một con
người không còn thích hợp trong xã hội
nầy nữa. Con không thể
đương đầu nổi với sự dối gạt từ trên
xuống dưới. Dù mất đi
tiền bạc, của cải và ngay cả đất đai,
mẹ có buồn; nhưng nỗi buồn lớn lao, đau xót
nhất, không bao giờ nguôi ngoai là mất đi nền văn hóa tốt đẹp mà cha ông ta
đã tạo dựng… Môi
trường xã hội nầy sẽ nghiền nát con ra,
nếu con quá chân thật. Dù xa
mẹ, con hãy ở một nơi nào đó để con có đủ
trí thức và hành động theo chiều hướng của
một con người thật sự.”
Sau
sáu năm, khi vừa học xong vì không thể xa mảnh đất
cha ông, anh không nghe lời mẹ và trở về. Và rồi những lời mẹ
dặn năm xưa lại hiển hiện ra trước mắt, anh
không thể chấp nhận. Cũng
may nhờ điều kiện hôn phối, anh lại trở ra
được. Hầu hết
những thính giả góp ý đều cùng tâm trạng
khoắc khoải như Thu Phong.
b-
Trong lá thư gửi cho Linh mục Nguyễn Thái Hợp, phụ
trách Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình, để yêu
cầu “nghiên cứu và đề xuất bài học chính xác và
toàn vẹn” về thái độ của Giáo hội Công giáo
Việt Nam đối với nhà cầm quyền CS, được
đăng trên website Công giáo Việt Nam ngày 23/7/2006, Hồng Y
Phạm Minh Mẫn, Tổng giám mục Sài Gòn, đã
gợi ý những điểm như sau:
* Năm 1954, trước Vatican II, Giáo hội
Công giáo phía Bắc có thái độ cứng rắn, bất
hợp tác với Nhà nước Cộng sản, gia đình
công giáo không gửi con em đến trường Nhà nước.
* Năm 1975, sau Vatican II, Giáo
hội Công giáo phía Nam có thái độ hợp tác, nhường quyền
sử dụng trường, cô nhi viện, viện dưỡng
lão và bệnh viện Công giáo cho Nhà nước, gia
đình công giáo gửi con em đến trường Nhà nước.
* Sau 30 năm, tôi thấy báo chí
thông tin kết quả của một cuộc điều tra
xã hội: 30–40% học sinh tiểu học nhiễm
thói gian lận, lừa dối, 40–50% học sinh trung học
nhiễm thói đó, lên đại học thì tỷ lệ 50–60%.
Trong một lần sinh
hoạt với giáo chức Công giáo, tôi hỏi tỷ lệ
mà báo chí đưa ra có đúng không? Một
giáo viên trả lời rằng thực tế còn hơn
thế. Vậy trong trường
đời ngày nay tỷ lệ ăn gian, nói dối, hàng giả,
thuốc giả, học giả, là bao nhiêu?”
Thưa
Ðức Hồng y, đâu là “sự thật”? Phải chăng có sự chệch
hướng? Phải chăng từ
sự “chệch hướng” nầy mà Chủ tịch
Nguyễn Minh Triết (NMT), trong lúc công du Mỹ, đã
biện minh cho hành động đàn áp giáo dân, đặc biệt là
cha Lý là có sự đồng tình với Giáo hội?
c-
Buổi tranh luận giữa LS Trần Lâm (TL) nguyên chánh án
Tòa án Nhân dân Tối cao của chính quyền CS và LS
Trần Thanh Hiệp, luật sư các tòa Thượng thẩm
Sài Gòn và Paris do cô Trà Mi, đài RFA thực hiện (đăng
nguyên văn trên trang Diễn Ðàn của Nhật báo Người
Việt ngày 8/10/2007) đã nói lên sự thật vô cùng quan
trọng về tình trạng vô cùng lạc hậu
luật pháp xã hội Việt Nam mà những ai còn
quan tâm với quê hương không thể thiếu. Quan trọng vì ông TL một đảng
viên cao cấp đã thẳng thắng nói lên sự
thật vô cùng quý giá.
CS
rất sợ dân chủ; do đó, Võ Văn Kiệt (VVK), truớc
khi rời chức thủ tướng vào năm 1997, đã
ký Nghị định (NÐ) 31/CP, một độc chiêu diệt
trừ dân chủ. Chính vì độc chiêu nầy mà ròng
rã 10 năm trời, qua trào Phan Văn Khải và Nguyễn
Tấn Dũng, đồng bào tranh đấu vô cùng nghiệt
ngã, phong trào Dân Chủ không lên được. Thế rồi
trước áp lực của Mỹ, CSVN phải bỏ, nhưng
thực tế thế nào. Ðó là nội dung chính sự
tranh luận.
Chánh
Án Trần Lâm, người thụ lý vụ LS Lê Thị
Công Nhân (một nạn nhân của NÐ nầy) xác nhận rằng,
trên giấy tờ thì có hủy bỏ nhưng thực
tế thì không. Người
cầm quyền muốn bắt giam thì bắt, không
cần xét xử, đẻ ra luật gọi là luật hành
chánh (luật điều 88). Ông
xác nhận chính quyền không có quyền bắt LS Công Nhân. Ông còn nhấn mạnh rằng
tình trạng nầy được coi như hết sức
bình thường. Còn
nhiều chuyện tài trời, thí dụ như vụ án
Ðồ Sơn mà xử án treo rồi đồng bào bức xúc quá
phải xử lại và án là 7 năm tù, thật không tưởng
tượng nỗi. Ông cho
biết những vụ xét xử ở tòa chỉ là
những màn trình diễn, với những “bản án
bỏ túi”, theo chỉ thị của Ðảng! Xã hội nầy là xã
hội nhân trị tức là
ý của người cầm quyền đấy, họ
muốn gì thì là họ làm. Không như những nước
tiến bộ có lập pháp, tư pháp, hành pháp phân minh; nước
ta nhập 3 quyền nầy lại một cục thành
đảng pháp thôi. Hiến chương
Quốc tế Nhân quyền, Công ước Dân sự và Chính
trị đều có ký để được vào, nhưng nào ai có
đọc. Thảo nào VVK mạnh
tay ký NÐ dễ dàng và ròng rã 10 năm trời
vẫn chưa thấy! Lại
còn oang oang dạy đời dân chủ không một chút
ngượng ngùng.
“Sự thật” sẽ giải
trừ VHÐ và CNCS
“Sự
thật” là “bản chất của vũ trụ” có sức
mạnh vô song. Thầy Lý
Hồng Chí ( PLC) thấy rõ chân lý nầy nên
đã dùng phương sách “nói lên, phơi
bày sự thật” vô cùng hữu hiệu. Ðến nay,
đầu năm 2007, mặc dầu hoàn cảnh cấm đoán vô cùng
khắt khe, nhưng đã có hơn 20 triệu đảng viên bỏ
đảng. Nếu tự do ngôn luận truyền thông được
thực hiện tốt thì số người bỏ
đảng chắc chắn phải là gấp bội và cũng
có thể ÐCSTQ không còn. Thế giới không thấy
chân lý nầy đã đi chệch hướng (CH) là nguyên
nhân khổ nạn triền miên của các dân tộc và đưa
đến thảm họa tận thế (xem phần II)
Phúc
thay, Ðức Phật Thích Ca có nói; “Ở đời có ba cái không thể che dấu mãi
được là Mặt trời, Mặt trăng và Sự thật”.
“Sự thật” sớm muộn rồi cũng được phơi
bày và ngày nào mà mọi sự thật được phơi bày thì
tất cả ÐCS, cũng như độc tài, cuồng tín phải
cáo chung vậy.
Thế
nhưng có vấn đề là mỗi người nhìn “sự
thật” khác nhau. “Sự thật” đích thực chỉ lá
một và “sự thật”gần “sự thật” nhất là
từ cái nhìn của người trí thức chân chính (TT). Và
thế nào là một trí thức chân chính?
Trí thức Chân chính (TT), Trường
Học (TH) và Trường Ðời (TÐ)
Theo
xã hội cổ truyền Việt
TÐ giúp con người khoa
bảng trở nên người trí thức và chọn con
đường lý tưởng. Do đó
TH đã khó, TÐ lại còn khó hơn. TÐ giúp con
người phát triển khả năng suy tư, tự xét mình
trước khi xét người. Chính
cái khả năng suy tư đó mới giải hóa được tinh
thần kiêu căng khoa bảng. Chính
cái khả năng suy tư đó làm cho người có học trở nên con
người biết suy nghĩ. TH
chỉ đào tạo chúng ta thành một người chuyên môn,
tiếp tục TÐ để cải tiến bản thân và
xã hội. Chính cái ý
thức đó người khoa bảng trở nên người trí
thức”. (GS Nguyễn Hữu Chì,
Tạp chí “Ði Tới” số 37-38).
Nói
ngắn gọn, người TT là người có học thức
luôn trau dồi nhận thức, biết lắng nghe, sáng
suốt, có lý tưởng, mạnh dạn nói lên ”sự
thật”, không nói một đàng làm một nẻo, trên
hết là hành động theo lẽ phải, đạo lý. Do đó không mơ hồ, có một sự phân
biệt rất rõ rệt giữa TT, ngụy trí
thức và khoa bảng.Và cái nhìn của TT là
gần “sự thật” nhất.
Sự thật về Chiến tranh
Việt Nam (CTVN)
Rất
tiếc trong cuộc chiến nầy nhân dân Việt Nam và
Hoa Kỳ đã trả cái giá vô cùng lớn lao mà đến
nay, tiếng súng đã chấm dứt hơn 30 năm rồi nhưng
rõ ràng CTVN đã đi vào lịch sử cả 2 nước không
đúng sự thật. Thật
là một đau xót vô cùng cho những người đã nằm
xuống cho chính nghĩa cuộc chiến.
a- CTVN đối với dân tộc Việt
CTVN
đối với dân tộc Việt
Khi
đến Trung Hoa, để dấu tung tích CS, ông đổi tên thành Lý
Thụy và thành lập ÐCSVN năm 1930. Nhưng rồi năm 1941 để che
mặt dư luận ông thành lập mặt trận “Việt Nam
Ðộc lập Ðồng minh Hội” viết tắt là
Việt Minh (VM) để có lớp áo quốc gia. Ở đây xin lưu ý có sự
lầm lẫn quan trọng.Thực ra khi HCM thành lập VM,
y chưa có tên HCM mà là Lý Thụy và trước đó là Nguyễn
Ái Quốc.Vừa thành lập VM, vì không thể qua
mặt tướng Tàu Trương Phát Khuê, ông bị bắt giam (đầu
năm 1942). Năm sau (1943), để tỏ
tinh thần đoàn kết, cụ Nguyễn Hải Thần
(NHT), một lãnh tụ cách mạng quốc gia rất
uy tín, lãnh y ra; sau đó, y mới đổi tên là HCM (Việt
Nam Pháp Thuộc Sử, Phan Khoang), bí danh của cụ
Hồ Học Lãm (chết năm 1942) cùng là lãnh
tụ cách mạng quốc gia đồng thời với cụ
NHT. Trong giai đoạn nầy,
cụ NHT cùng nhiều nhà cách mạng quốc gia có thành
lập tổ chức “Việt Nam Cách mạng Ðồng minh
Hội”, một tổ chức cách mạng quốc gia, khác
với tổ chức VM, một tổ chức CS, quốc
gia trá hình, của Lý Thụy.Hai tổ chức
đều có tên đầu và cuối là VM.Ông mang tên HCM từ
đấy, thủ đoạn dùng sự giống nhau nầy,
tiến hành thủ đoạn tiêu diệt tất cả
những lực lượng quốc gia yêu nước. Ông đã thành công trong việc đánh
lừa đồng bào và thế giới, trở thành độc
quyền chống Pháp, thắng Pháp qua trận Ðiện
Biên Phủ. Rồi
biến Việt
Bùi
Tín, trong cuộc phỏng vấn đăng trên Việt Tide số
phát hành 7/7/2006, nhận định: “Ông
HCM đã du nhập vào Việt
Bùi
Tín chỉ thấy phân nửa “sự thật”. Dù 3 triệu hay mấy triệu
sinh mạng chết, nó lớn thật nhưng dù sao nay nó là
lịch sử, chuyện đã rồi không làm sao sửa
được. ”Sự thật” cái
tác hại đáng nói và lớn ghê gớm là HCM đã xây dựng
cái ÐCS “thực chất
của nó là sự cướp bóc của một đội ngũ
cầm quyền, cướp bóc tài sản của quốc gia,
tài sản của dân chúng” (DTH) và tai hại hơn nữa là
cấy vào nhân dân cái VHÐ vô cùng độc hại như “cấy
sinh tử phù”, hủy diệt VHTT làm biến dị hoàn toàn
con người Việt Nam, không biết bao nhiêu thế hệ
mới phục hồi. Thế mà ông chỉ gợi ý
là “xin lỗi nhân dân về việc đã làm” thì là
chưa nhận thức đúng “sự thật” vậy.
Nhân
dân miền Nam nhìn góc cạnh nào đó có thể chia xẻ
với quan điểm ”Về các Chính
quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), đối với
chúng tôi (Tiêu Dao Bảo Cự (TDBC), thành viên MTGPMN,
đảng viên 1974–1989, bị đảng khai trừ, Tĩnh
Thức TDDC số 2) không có
chính quyền nào đáng tôn trọng. Sau khi bị lật đổ vào năm
1963, chính quyền Ngô Đình Diệm (NÐD) được
tổng kết đánh giá như một chính quyền ‘độc tài,
gia đình trị’. Các chính
quyền kế tiếp cho đến năm 1975 là những chính
quyền thư lại độc tài quân phiệt, tất cả
đều lệ thuộc người Mỹ…”
Sau
1954 dù Pháp rút đi, Miền Nam chưa hoàn toàn độc lập,
vì Hiệp Ðịnh Geneve là giữa CSBV với
thực dân và Ðồng Minh, nhơn danh “Phe Tư bản” (PTB)
chống cộng. Cuộc
đấu tranh chính thống “giải phóng“của dân tộc
giờ đây còn phải tiếp tục nhắm mục
tiêu ngăn chận CNCS. Cụ NÐD được
Thế
nhưng thưa ông TDBC và những đồng chí của ông, dù sự tồi tệ
của các chính quyền miền Nam đến đâu đi nữa,
cũng không biện minh cho sự mù quáng để trở thành
một đảng viên CS tồi tệ như lời sám hối
của LS NHT. Và nếu vì
“hàng trăm” lý do nào đó, sự sai lầm ở thời điểm
đó thì cũng có thể tạm hiểu. Nhưng trước những sự
thật quá khứ đã được phơi bày và nhất là
trước thực tế xảy ra từ ngày ÐCSVN
cưởng chiếm miền Nam, cai trị cả nước
ròng rã 30 năm nay mà quý vị vẫn còn biện
minh cho sự tồn tại của nó để rồi kêu
gọi đối thoại hòa giải thì quả
thật nhận thức của ông còn rất xa
“sự thật”.
Hôm
nay “sự thật” không ai có thể phủ nhận
những nấm mồ của quân dân Miền Nam là những
nấm mồ hy sinh cho lý tưởng tự do, dân chủ
phù hợp với xu thế tiến bộ của loài
người mà chế độ hiện nay đang cố công xây
dựng, chớ không vì ý thức hệ hay
chủ nghĩa ngoại lai. Trái
lại “sự thật” rõ ràng những nấm mồ
của quân dân Miền Bắc là những nấm mồ hy
sinh cho sự bành trướng, xăm lăng của CNCS, xây dựng
một xã hội lạc hậu, dã man (lời
DTH).
Nếu
không có CNCS thì Việt
Với
DTH, “... ‘sự thật’ đó là dân
tộc chúng ta đã có lúc ngu dại; vì là một
nước nhỏ nên bị đưa đẩy giữ hai thế
lực, dân tộc bị kèm kẹp giữa hai đầu tàu
lịch sử… Dân tộc Việt
b-
CTVN đối với Hoa Kỳ
Xin
lỗi phần nầy quá dài, xin xem mục nầy trong “Sinh
Lộ Quê Hương - Phần II”.
c-”Sự
thật” cái “Màn Lừa phỉnh” (MLP) Hiệp định
Trong
những “sự thật”, “sự thật” vô cùng quan
trọng không thể thiếu của lịch sử CTVN là
“sự thật” của MLP Hiệp định Paris và vai
trò bù nhìn của MTGPMN. Người có uy tính nhất hiện
nay để nói lên “sự thật” nầy là Bà Nguyễn
Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch, trước đây là đại
diện cho MTGPMN trong bàn hội nghị.
Nhân
đây xin mạn phép có vài dòng xin thưa với bà.
Thưa
Bà, nếu bà còn sáng suốt và còn nghĩ đến
trách nhiệm của mình trước lịch sử và dân
tộc, nhất là trách nhiệm giải tỏa niềm
uất hận của các đồng chí đã mất, đặc
biệt là LS NHT, con chim đầu đàn, Bà phải nói lên “sự
thật” cái MLP nầy trước khi quá trể. Cái giá ôm nó xuống tuyền đài
rất là lớn, bà sẽ cảm nhận lúc lâm chung.
Với
sự hiểu biết hạn hẹp và ở tuổi
về chiều trí nhớ cạn kiệt xin mạng phép có
vài dòng với Bà về cái MLP nầy.
MTGPMN
một giả danh, bù nhìn do CSBV dựng lên trong bàn
hội nghị
Ðâu
là”sự thật”? Khi hội
nghị bắt đầu, chỉ có 3 bên là CSBV, Mỹ, và VNCH.CSBV
quyết tâm đòi cho được có MTGPMN là một bên đàm phán. Tình trạng dằn co vì
sự chống đối quyết liệt của VNCH, đã
kéo dài hơn năm trời chỉ vì không nhất trí về cái
“bàn tròn bàn vuông”, bất chấp vô số sinh mạng
đã chết cho những ngày làm giá dằn co nầy.Cuối
cùng, trước áp lực của phong trào phản chiến,
Mỹ phải nhượng bộ, nhận là bàn vuông cho 4 bên. Nhân dân Miền Nam và Hoa kỳ (và
TG) bắt đầu thua CSBV từ đây; vì nếu 3 bên, CSBV
là xăm lăng không có lý do gì để bộ đội
lại, điều mà họ luôn chối cải.Thế rồi
HÐ gọi là Hiệp định Hòa bình cho Việt
Nam ký ngày 23/1/1973 được Liên Hiệp Quốc (LHQ)
chuẩn nhận với 14 nước đại diện. Trong đó
có điều khoản toàn bộ quân đội Hoa Kỳ phải
rút đi, bộ đội CSBV ở tại chổ, (coi như Hoa
Kỳ xác nhận xăm lăng), đúng là một bản án tử
hình cho nhân dân Miền Nam, một MLP cho Hoa Kỳ rút quân.Kissinger và Lê Ðức
Thọ được lãnh giải Nobel.Thế rồi cái vô
cùng bi đát nữa là sau đó Hoa Kỳ cắt toàn bộ viện
trợ cho miền Nam.Khoảng 2 năm sau, mùa Xuân năm 1975, CSBV núp
sau lá cờ MTGPMN tràn chiếm miền Nam. Sau đó chỉ 3 tháng, cờ MTGPMN được
lệnh hạ xuống và lá cờ ÐCS được “ngạo
nghễ” kéo lên khắp nơi. CSBV hiện nguyên hình là đoàn
quân xăm lăng.Cái MLP về vai trò của MTGPMN không
còn cần thiết, thật quá tàn nhẫn trắng
trợn, không chút tình người, vô văn hóa, không coi công
luận thế giới ra gì.TG đã phản ứng
ra sao?
Thế
nhưng lịch sử và VHTT Việt Nam không thể chấp
nhận thực tế nầy.Do đó mà “tuồng hát CTVN” chưa
thể kết thúc ở đây.Bà và những đồng chí
còn lại của MTGPMN, nếu thực sự yêu
nước nghĩ mình và những đồng chí đã
mất đã bị lừa phải có vai trò lịch
sử nào đó trong giai đoạn vô cùng nghiệt ngã của
dân tộc.Quý vị phải trở lại sân khấu
để kết thúc vai trò MTGPMN sao cho phù hợp với
VHTT và lịch sử Việt Nam. Thưa quý vị, dù sức lực thể xác không
còn, nhưng quý vị hiện có “công lực“ rất
lớn là “sự thật”. Hãy
mạnh dạn nói lên “sự thật’”, tất cả
“sự thật” như LS NHT đã nói, đặc biệt là cái MLP
của hội nghị Paris. Qua đó xin lỗi đồng bào và
nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân Mỹ.
Từ đó sẽ nhận thức trách nhiệm mình vô
cùng to lớn, cần phải làm gì và đâu là lối thoát
xin góp ý ở đoạn sau.
d-
Sự khác biệt “Hậu Cộng sản” của CSVN và CS
Âu Châu - Ðảng Mafia và Chủ Nghĩa Ðô La (CNÐL)
Sau
khi CNCS phá sản, người CS Châu Âu biết sai lầm,
thức tĩnh, sửa sai đi theo xu thế thời đại,
dĩ nhiên cũng có một số lợn cợn không đáng
kể. Nhưng hầu như không nghe lãnh đạo nào lớn
tiếng khẳng định sự “tiến lên con đường
XHCN” nữa. Còn CSVN, CNCS đã
phá sản cách nay hơn 20 năm (từ khi mở cửa thị
trường 1986), các Tổng bí thư (TBT) mới lên đều
lập đi lập lại “Nhất định tiến lên XHCN là
con đường của nhân dân và lịch sử ta chọn
lựa”. Gần đây, ngày 28/8/2007,
khi phát biểu trước cán bộ lãnh đạo Bộ
đội và Công an, CT NMT nói: “Tôi
khẳng định trước sau như một là chúng ta
tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội, chúng ta phải
xây dựng đảng của chúng ta. Dù ai nói ngã nói nghiêng, dù ai có
muốn bỏ điều 4 hiến pháp gì đó thì không
có chuyện đó. Bỏ cái đó
đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát.” Ông có thành thật hơn các TBT trước là khẳng
định “con đường do Ðảng chọn“ thay vì “nhân
dân và lịch sử”. Sự khẳng định nầy vô
tình ông khẳng định “sự thật” ÐCS là
kẻ thù dân tộc và đi ngược xu thế văn minh của
thế giới vậy. Người phương tây cho Ông là có vấn
đề lý trí nặng vì thật ra bất cứ ai
với suy nghĩ bình thường nào cũng đều không tin
tưởng như ông.
Ðảng
CSVN biến dạng thành đảng Mafia, cai trị với hệ
thống luật pháp vô cùng lạc hậu (phát biểu
của TL).Bên cạnh luật pháp vô cùng lạc hậu
nầy, công an lạm quyền bất chấp luật pháp.Ngoài
ra, lại còn dùng “Xã hội Ðen”, thực
chất là “Xã hội Côn đồ”, để đàn áp người
dân, che mắt thế giới, hành xử như sống giữa
rừng xanh, hết sức vô văn hóa. Tiêu biểu là
trường hợp của Nguyễn Phương Anh và cụ Hoàng Minh
Chính sau khi ở Mỹ về. Trong gần 200 nước trên
thế giới ngày nay, khó có một xã hội nào vô
luật pháp tồi tệ đến thế, nỗi sợ
hãi triền miên trơng nhân dân.
Xã
hội, cán bộ, người dân chỉ biết cuồng tín chạy
theo đô la làm những việc vô cùng tội ác, vô đạo
đức (tổ chức vượt biên vô trách nhiệm để hốt
vàng, xuất cảng lao động phụ nữ trá hình).
Vô số những hiện
tượng hết sức tiêu cực đã trở nên
bình thường (nhận định của Trần Quang
Thuận). Cán bộ đảng
viên cao cấp, từ hai bàn tay trắng, nay trở nên
triệu phú, thậm chí tỷ phú đô la. Tồi tệ hơn nữa là
tình trạng nông dân bị cướp đất cướp nhà,
phải đi khiếu kiện hằng chục năm nay, từ Hà
Nội vào đến Sài Gòn.
Gần đây, số dân đi khiếu kiện lên đến
hằng ngàn và bị đàn áp hết sức dã man (đêm 18/7/2007
ở Văn phòng Quốc Hội 2) mà không được giải
quyết.
Dân
tộc Việt
*
Truyền thông báo giới CÐ tỵ nạn mặc nhiên
cải danh “Người Việt tỵ nạn CS” - một chính
danh nói lên đặc điểm bất khuất rất cao
quý của VHTT, và chỉ với danh nghĩa nầy mà
chúng ta mới được như hôm nay - thành “Việt kiều”. Chúng ta không quên CSVN đã ra
nhiều công sức cùng với trí thức phản chiến
Mỹ ở Ðại học Boston để cố thực
hiện công trình cải danh “căn cước tập thể
người Việt tỵ nạn” thành “Việt kiều”. Mục tiêu là xóa đi danh nghĩa “tỵ
nạn”, tức xóa đi danh nghĩa xăm lăng, không cho nó đi vào
lịch sử (đưa đến vụ kiện của Ðại
úy Nguyễn Hữu Luyện). Cùng
với mục tiêu nầy mấy năm gần đây các bia
tưởng niệm thuyền nhân ở
*
Nhiều trí thức, thậm chí là những viên chức
lãnh đạo miền Nam trước đây, những vị giáo
sư đại học, những vị lãnh đạo phong trào
tranh đấu, tỏ ra thức thời lên án cả hai bên, cho
rằng cuộc chiến trước đây là vô nghĩa, nội
chiến huynh đệ tương tàn, cuộc chiến ủy
nhiệm do chủ nghĩa ngoại lai Nga Mỹ dàn
dựng. Và rồi cuộc
đấu tranh dằng dai hiện nay là do hận thù xưa của
thế hệ già ở hai bên. Sau khi thế hệ
nầy chết đi, lớp trẻ không dính líu với
cuộc chiến không có hận thù sẽ hòa giải với
nhau dễ dàng. Thật vô cùng
ngạc nhiên với cái nhìn thay đổi nầy. Quý vị đã từng kêu
gọi trả lại “sự thật” cho lịch sử. Phải chăng cái nhìn nầy là
“sự thật” hôm nay của quý vị?
Thế
thì tất cả những quân nhân đã nằm
xuống ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa để
ngăn chận CS cùng 5 vị tướng đã tự sát là bị
phản bội hay bị lường gạt? Sau hơn 30 năm, vô số những
sự thật phơi bày và nhất là trước thực tế
hôm nay, đáng lẽ quý vị phải nhận rõ
hơn đâu là chân lý và khẳng định về cái chính
nghĩa hy sinh của họ. Chính
nghĩa nầy được nhân dân miền
Thưa không, những chiến binh
của miền
Xin
miễn có ý kiến về chủ trương “hòa
giải, hòa hợp” của quý vị. Nhưng bóp
méo “sự thật” về cuộc chiến cũng như
“sự thật” về hận thù là cái giá khá đắt cho
người TT đấy!
Quý
vị nghĩ thế nào về việc Tôn Nữ Thị
Ninh, Chủ tịch Ðối ngoại Quốc hội CSVN,
cách đây không lâu, đã mạnh dạn phát biểu sau khi có
NQ 36, đại khái như sau: “Rồi
đây với phương tiện dồi dào, NQ 36 sẽ mua đứt tất cả
truyền thông báo giới hải ngoại và đánh gục
những thằng chống cộng hăng nhất!”.
Hai
hiện tượng trên rõ ràng là thành quả chiến
lược không ngờ của NQ 36 và là thiệt hại
hết sức lớn lao cho công cuộc đấu tranh của
dân tộc vô cùng gay hiện nay, nó còn nguy hại hơn là
sự quay lưng của Ðồng Minh của “Cộng
Ðồng Thế Giới”
Sinh Lộ Cho Quê Hương: Ðốt Thẻ
Ðảng, Nhận Thức Lại.
a. Ðốt thẻ
Ðảng (ÐTÐ), diệt trừ sợ hãi, mọi
sự thật phơi bày, giải thể ÐCS.
Sinh
lộ cho các dân tộc dưới sự cai trị của
ÐCS không thể có với sự tồn tại của
ÐCS. “Sự thật” là công lực đích
thực để giải thể nó, kết quả sớm
muộn tùy theo văn hóa mỗi dân tộc và tính đặc thù trong
sự hình thành của nó.”
Trường
hợp đặc thù sự hình thành ÐCSVN và với VHTT,
sinh lộ nầy lại càng khẳng định hơn. Ðúng vậy, không có chế
độ CS nào trên thế giới thành công như trường hợp
CSVN. Nổi bật là những đặc điểm sau đây:
-
Thứ nhất: Thực chất là sự lừa bịp,
lợi dụng truyền thống bất khuất, tinh
thần yêu nước vô bờ bến của dân tộc và
tình trạng nô lệ hết sức dã man thực
dân Pháp suốt gần 100 năm đánh lừa “yêu đảng là yêu
nước, yêu dân tộc” hết sức trắng trợn.
-
Thứ hai: Xã hội miền
-
Thứ ba: Ngày hôm nay, sau 32 năm dưới sự thống
trị của CS, xã hội băng hoại trầm
trọng, con người mất hết phẩm giá và đạo
đức, một chế độ cực kỳ lạc hậu.
Trước
tình hình hiện nay, sự cáo chung của ÐCS là
hiển nhiên. Có thể vì thế mà có dư luận
đổi tên Ðảng để tẩy xóa danh từ CS. Danh
từ nầy đã được HCM mang vào, thành lập ÐCSVN
qua nhiều lần đổi tên (ÐCSVN, ÐCS Ðông Dương,
Ðảng Lao Ðộng Viêt Nam rồi trở lại
ÐCSVN).Cốt lỏi của vấn đề không phải là
thay tên, mà là giải thể càng sớm càng tốt cho quê
hương.
Có
4 khả năng tùy theo mức độ thực sự yêu nước
của các đảng viện:
a. Ðẹp nhất cho dân tộc là
lãnh đạo cao cấp nhất của Ðảng
thực sự thức tĩnh tuyên bố giải tán
Ðảng. Nhưng đây là ảo tưởng.
b. Lãnh đạo không thuộc hạng cao
cấp thực sự thức tĩnh, hành sử như Yeltsin.
Có lẽ không thực tế, lý do thứ nhất
hầu hết cấp nầy quyền lợi gắng
liền với Ðảng, lý do kế là tạo xáo
trộn đổ máu không ai chấp nhận.
c. Khả năng thứ 3, khả thi nhất
là sự thức tĩnh của tầng lớp đảng viên
yêu nước thực sự ý thức mạnh mẽ
ÐCS là đảng tội ác phản bội dân tộc và quê
hương nhận thấy trách nhiệm lớn lao của mình
mà phát động Phong Trào
Ðốt Thẻ Ðảng (PTÐTÐ), hóa giải công
lực Ðảng. Ðồng thời đồng bào hãy
đừng sợ hãi nữa phát động phong trào tẩy
chay Ðảng, tẩy chay đảng viên, bất hợp tác
mọi sinh hoạt. Chỉ có ÐTÐ người đảng viên
mới nói lên sự thật tâm trở về với
cộng đồng dân tộc và là lối thoát tốt nhất
cho quê hương.
d. Nếu được sự hưởng ứng
tích cực của đảng viên thì sẽ rút ngắn
thời gian khổ nạn cho đồng bào, sự tàn phá
xã hội và đất nước nhất là tránh nguy cơ nô
lệ TQ. Nếu không thí chăc chắn nhân dân sẽ phải
đứng lên làm nhiệm vụ lịch sử vậy.
Lịch sử và VHTT VN không chấp nhận hình
thức cai trị của ÐCSVN. Những tổ chức
đấu tranh, mà mục tiêu là “Bỏ Ðiều 4 Hiến
pháp” hoặc “Ða nguyên đa đảng”, đừng quên rằng
ÐCSVN vẫn tồn tại và là đảng hợp pháp
để tranh cử, không đảng nào có khả năng đối
đầu vì tiền rừng bạc biển, thành tích gian
trá, và sự biến dị của người dân. Không
thấy trước nó sẽ trở thành hợp pháp cai trị
lâu dài mà đắc tội vậy.
Thành phần nào có khả năng là
tiền phong phát động PTÐTÐ
Thưa
quý vị đảng viên kỳ cựu yêu nước, đặc biệt quý
vị đảng viên gốc miền Nam, quý vị có gia
đình nạn nhân của cuộc “Cải cách ruộng đất”,
có gia đình di cư. Không ai nghi
ngờ quý vị vì tinh thần yêu nước mà
đã trở thành đảng viên, nguyện suốt đời
phấn đấu và hy sinh cho Ðảng. Có thể nói,
quý vị là thành phần nạn nhân chịu nhiều nghiệt
ngã nhất do sự phản bội của ÐCS.Ở
mỗi diện, sự uất hận có đặc thù xé
ruột riêng của nó. Bên cạnh là những đảng viên
kỳ cựu trong Quân Ðội Nhân Dân (QÐND), sự hy
sinh vô bờ bến của quý vị rõ ràng
đã bị phản bội lừa bịp trắng
trợn. Sự khẳng định trên đây của NMT là
khẳng định ÐCS là kẻ thù của dân tộc
“Hủy bỏ Ðiều 4 là tự sát”. Hủy bỏ
Ðiều 4 là đưa ÐCS ra trước Tòa Án Nhân Dân
vậy. Tiếng gọi non
sông hôm nay còn khẩn thiết hơn ngày xưa nhiều.
Còn chút sáng suốt ở tuổi về chiều, không
cho phép quý vị bình thản ôm thẻ đảng
đến khi nhắm mắt đi vào lịch sử muôn đời là
thành viên của Ðảng sẽ phải ân hận lúc lâm
chung. Như thế mới nói lên cái vai trò lịch sử của
quí vị vậy.
Ngày
12 /12/ 07, Ðại Tướng Nguyễn Khánh, phổ biến
bức “Tâm Thư” gửi toàn thể đồng bào kêu gọi thành
lập “Hội Ðồng Ðoàn Kết Dân Tộc”gồm
Quân Ðội VNCH,Quân Ðội Nhân Dân BV, và MT. Một sáng
kiến rất nên suy nghĩ đóng góp. Có người cho ngay
rằng “Hầu hết những người thuộc 3 lực
lượng nầy giờ đây ở tuổi hưu”. Ý nói còn sức lực đâu nữa.
Tôi không đồng ý. Với tôi cái mạnh của
những vị nầy là cái “nhận Thức” hôm nay của
quý vị vô cùng quý giá mà tuổi trẻ không làm
sao có và “ Sinh lộ cho quê hương” là “Sự Thật” chớ
không phải vũ lực. Những vị ở tuổi
về chiều thuộc 3 lực lượng nầy là nắm
giữ nhiều “sự thật”quý giá nhất mà
lịch sử không thể thiếu vậy. Tuy nhiên muốn
có kết quả phải có sự
đối thoại thực sự.Ðối thoại
thực sự chỉ có ở những người có tư cách,
không cường điệu, biết lắng nghe và trên hết
phải cùng một mục tiêu.Ba lực lượng nầy là
nạn nhân lừa bịp của ÐCS. Thành tích tráo
trở, gian trá của người đảng viên CS không làm sao
biện minh.Do đó, xin mạo muội có ý kiến,
vì hoàn cảnh nghiệt ngã của dân tộc và
để có lối thoát cho quê hương quý vị đảng viên
chứng tỏ sự thành tâm trở về với Cộng
Ðồng Dân tộc bằng hành động tham gia PTÐTÐ
sẽ đủ tư cách để cùng nhau đối thoại vậy.
b. Nhận thức lại,
giải trừ VHÐ, trở về VHTT.
Khi
mọi “sự thật“được phơi bày, vấn đề quan trọng là cần nhận thức
lại.
Ðảng
viên thật sự yêu nước cần can đảm một
lần nhìn thẳng vào “sự thật”, điều
chỉnh nhận thức mình; không đơn giản cho những đảng viên
lớn tuổi, nhưng không có sự chọn lựa. Hầu
hết những người lính trẻ trong đoàn quân chiến
thắng sau 30 tháng 4, ngỡ ngàng trước thực tế
của xã hội miền Nam, đều cảm thấy không
ổn về nhận thức của mình. Tiêu biểu là DTH phải ngồi
khóc bên lề đường khi vào thành phố Sài Gòn vì
tuổi xuân phí phạm; KS Ðỗ Nam Hải, du học
sinh Úc Châu tự thú: “Càng
tìm hiểu sâu rộng, tôi lại càng phát hiện ra
nhiều điều mâu thuẩn giữa thực tiển
cuộc sống đang diễn ra xung quanh với những gì mà từ nhỏ tới
lớn mình vẫn được tuyên truyền, giáo dục.
Ðúng
là phải nhận thức lại...”
Nhận
thức không thay đổi sẽ lạc hậu ngay.DTH rõ
ràng là đảng viên có thể nói là thức tĩnh sớm
nhất nhưng với nhận thức “Sau chiến tranh,
một bên là mù quáng tiếp tục cuộc chiến vì
hận thù quá khứ” đã bị lạc hậu khi theo
dỏi tuổi trẻ đấu tranh trong nước. Tiêu
biểu nổi bật là LS Lê Thị Công Nhân,28 tuổi, sanh
năm 79, có liên cang gì với cuộc chiến cũ, phát
ngôn nhân cho đảng Thăng Tiến đấu tranh vì Nhân
Quyền, Tự Do và Dân Chủ thông báo với đồng bào
khi bị bắt đêm 30 Tết 2007 như sau:
“Bằng
tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm
của mình đối với đất nước và dân tộc
Việt
“Tôi
không thách thức, nhưng CSVN, nếu hạ quyết tâm
thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà
đạp lên Nhân Quyền của người dân Việt Nam, và
muốn tiếp tục dìm đất nước Việt Nam
vào tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về
mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa kéo dài
cho đến đời con cháu,thì tùy họ cứ việc
hành sử với những gì họ có.”
“
Tôi có thể bị khởi tố và có thể bị đi tù,
nhưng tôi quyết tâm tranh đấu vì Dân Chủ, Nhân
Quyền và Tự Do Việt
Thật
như gáo nước lạnh xối vào những ai cố
tình cho rằng cuộc chiến vì quá khứ,
vì hân thù nội chiến ngày xưa.Rõ ràng nó phát
xuất từ dòng máu của con người Việt Nam.Phải
chăng qúy vị cho rằng sau khi tất cả những
người trong cuộc chiến cũ đều chết đi, toàn
dân sẽ khuất phục không có cuộc đấu tranh nữa
sao?.
Sau khi nhận thức lại
sẽ giải trừ VHÐ tức VH Việt gian, sẽ cùng
nhìn thấy một “sự thật”: “sự thật” cuộc
chiến trước đây, “sự
thật” cuộc đấu tranh hiện nay và đâu là “hận thù” và cùng nhau trở về với
VHTT là “Sinh Lộ Cho Quê Hương”
vậy.
Kết luận
Rõ
ràng ÐCSVN sống còn và có khả năng kéo dài là do
sự biến thể thành Ðảng Mafia theo CNÐL được
Hoa Kỳ và một “Cộng Ðồng Thế Giới chệch
hướng” (TG) yểm trợ (xin xem tiếp Phần II). Thật
vô cùng khó khăn,phức tạp.Nhưng “Hồn Thiêng Sông Núi
Còn” chân lý lịch sử “Dân tộc VN vô địch
trước mọi kẻ thù” vẫn là chân lý. Do đó
phải biết lấy sức mình vậy. “Sự
thật” “chính nghĩa” “thời gian” về phía chúng ta. Cái
đáng sợ là sự biến dị ở mỗi chúng ta. Mình
chỉ thua vì sự biến dị nầy, giải
trừ sự biến dị, trở về với VHTT chúng
ta không thua bất thứ kẻ thù nào.
Tiềm
năng đấu tranh “Giải thể ÐCS” của Hải
ngoại còn rất lớn lao, khai thác triệt để sức mạnh “sự thật”.
Lợi dụng tình
hình, bằng Kỹ Nghệ Thông Tin phổ biến càng
nhiều càng tốt những “sự thật” đã bị
bưng bít, những “sự thật” về ÐCSVN về trong
nước. Nghiên cứu khả năng thành lập thư viện nhà
sách trang bị đầy đủ, yểm trợ xuất
bản những tác phẩm bị cấm, phục hồi VHTT,
nhất là TT đã bị VHÐ triệt tiêu.
Luật
sư đoàn Hãi Ngoại tích cực yểm trợ luật sư
trong nước thành lập luật sư đoan đúng nghĩa, hành
sử đúng chức năng mình, áp lực nhà cầm
quyền thực hiện “xã Hội Pháp Trị”
Nguyễn Diệp Phong
Rncho Sta Margta, Mùa Giáng Sinh 2007
SINH LỘ CHO QUÊ HƯƠNG
(PHẦN II):
ÐẠO ÐỨC
SUY ÐỒI, ÐỘC TÀI CUỒNG TÍN,
SỰ CHỆCH
HƯỚNG CỦA THẾ GIỚI
Nguyễn Diệp Phong
Ðạo
đức suy đồi, độc tài cuồng tín, sự chệch
hướng của thế giới là nguyên nhân đích thực
của khổ nạn triền miên của con người và
thảm họa nhân loại.
Công lực đích thực giải trừ không phải là
ý thức hệ, chủ thuyết, vũ lực hay
phát triển mà là “sự thật”, “lẽ phải” và
“sự trở về nguồn cội”, sứ mạng
của người Trí thức Chân chính.
Nhơn chi sơ tánh bổn
thiện
Người
xưa thường nói “Nhơn chi sơ tánh bổ thiện”, ý nói
thuở ban đầu con người là thiện lành. Qua thực tế đúng là sự
thật. Ðây cũng là
thuyết giảng của Thầy Lý Hồng Chí,
Thầy thấy rằng “Sanh mạng con người phát
xuất từ trong vũ trụ, có bản chất lương
thiện”. Nhưng khi có nhiều sanh mạng phát sanh ra thì
có liên hệ xã hội tập đoàn, xã hội càng
ngày càng phát triển đông đảo, con người xa cội
nguồn trở nên biến dị, tham lam, ích kỷ,
đạo lý suy đồi càng ngày càng trầm trọng, làm
giàu bất chính.
Chủ nghĩa
Thực dân và Việt Nam
Ðạo
lý suy đồi càng ngày càng trầm trọng, lòng tham
không đáy đưa đến Chủ nghĩa Thực dân (CNTD),những
nước lớn xăm chiếm các nước nhỏ làm thuộc
địa,bốc lột hết sức dã man. Cao điểm là thời kỳ
trước Ðệ II Thế chiến (ÐIITC).
Vào
giữa thế kỷ thứ 19, Pháp xăm chiếm và đô hộ
Việt Nam (VN). Dân tộc VN
bị bốc lột đến tận xương tủy ròng
rã đến ÐIITC thì Phát xít Nhật chiếm Ðông
Dương (ÐD), đảo chánh Pháp, cướp chánh quyền. Dân tộc VN giờ đây bị
“một cổ hai tròng” suốt bốn năm (1941–1945)
lại càng thống khổ tột cùng. Ðặc biệt trong thời
gian nầy, năm 1945, cùng với sự oanh tạc của
Ðồng Minh và sự cai trị vô cùng độc ác của
Nhật, dân tộc VN bị chết đói hơn 2 triệu
người trong một dân số khoảng 20 triệu,
thật là không thể tưởng tượng. Nghe những người lớn
tuổi kể lại, cứ mỗi sáng mở cửa
ra thấy xác chết rải
rác trên đường!
Thế
rồi sau khi ÐIITC kết thúc, Nhật đầu hàng, CNTD phá
sản. Ðây là cơ hội ngàn
vàng cho dân tộc VN được độc lập, sau gần
suốt 1 thế kỷ đấu tranh như trứng chọi đá,
vô cùng gian khổ. Ðồng Minh (ÐM) tức Thế
giới Tự do (TGTD) vô cùng tàn nhẫn chủ trương đưa Pháp
trở lại với lý do ngăn chận CNCS. Thực chất là Tư bản Bất
chánh (TBBC) thuộc “trường phái đạo lý suy đồi”,
chỉ biết chạy theo Chủ nghĩa Ðô la (CNÐL),
tiếp tục khai thác tình hình mới, núp dưới
chiêu bài chống cộng đưa đến chạy đua vũ trang,
làm bộc phát cái gọi là “Chiến tranh Việt Nam” (CTVN).
Chạy đua vũ trang
Ðối
đầu với CNCS (cộng chung tài sản) đích thực là
Chủ nghĩa Tư sản (CNTS) hay Tự do, một tất
yếu phát triển tiến hóa của nhân loại. CNCS, cũng như những chế độ
độc tài, tôn giáo cực đoan, cuồng tín, thực
chất công lực, sức mạnh của nó là sự dối
trá, lừa bịp mù quáng con người, không biết đâu là
“sự thật”, đâu là đúng đâu là sai theo Văn hóa Truyền
thống (VHTT) của mình. Do đó “sự thật” hóa giải
nói dối lừa bịp, hóa giải mù quáng, nhận ra
“sự thật” là công lực đích thực giải trừ,
chớ
không phải là vũ lực. Ðây là “sự thật” là chân lý. Rất tiếc TGTD hay Hoa Kỳ
không ý thức được chân lý nầy nên đã đi
chệch hướng. Kết
quả không giải trừ được khổ nạn đích
thực CS mà lại gây tác hại ghê gớm cho nhân
loại. Trường hợp
giống như chẩn sai bịnh, cho không đúng thuốc, sự
trầm trọng là do sai thuốc.
Chủ trương dùng vũ lực, đưa
đến chiến tranh lạnh, sản xuất vô số
vũ khí giết người càng ngày càng tối tân trong gần
10 năm trời vô cùng nguy hiểm, phí phạm tài nguyên. Sản
xuất rồi phải sử dụng, tạo chiến
tranh!
Một
dẩn chứng rõ nét vũ lực không phải là
vũ khí để giải quyết vấn nạn CS là CTVN. Sự đối đầu tiêu
biểu nhất giữa CNCS và phe Tư bản (TB) hay TGTD,
đặc biệt là Hoa Kỳ, phải nói là CTVN.
CTVN đối với Hoa
Kỳ
Công
luận Mỹ thường xem CTVN bắt đầu từ năm
1960, tức thời Kennedy khi ông đưa đoàn quân cố vấn
sang giúp VN. Thực ra thảm
họa CS bùng phát ngay sau ÐIITC, và Hoa Kỳ, dù muốn dù không
là cường quốc lãnh đạo TGTD có trách nhiệm hàng
đầu để ngăn chận thảm họa nầy. Do đó Hoa Kỳ bắt đầu liên
can vào VN để ngăn chận làn sóng đỏ kể từ sau
Ðệ IITC. Ðây cũng là
nhận định của Tổng thống (TT) Nixon trong “No
More Vietnam”. Ông cũng cho CTVN là
ÐIIITC, vì ngoài Hoa Kỳ còn có Thái Lan, Ðại
Hàn, Úc, Philippines, Tân Tây Lan, tất cả là 7 nước. Cuộc chiến ròng rã
30 năm (1945-1975) trải qua 6 đời TT: Roosevelt, Truman,
Eisenhower, Kennedy, Johnson và Nixon. Ðúng ra đến đời Nixon,
CTVN chỉ kết thúc với Hoa Kỳ; còn với dân
tộc VN, cuộc chiến vẫn còn và day dẳng
đến hôm nay chưa dứt. Nhân
dân Hoa Kỳ đã hy sinh vô cùng to lớn cho cuộc
chiến nầy. Thế nhưng
thật đau xót hơn 30 năm đã trôi qua sau khi cuộc chiến
kết thúc mà nhân dân Hoa Kỳ vẫn chưa quên, chưa thể
đóng lại cuộc chiến này, trải qua sự trầm
trọng triền miên “hội
chứng CTVN”. Lý do là vì
người
dân Mỹ vẫn chưa thấy đâu là “sự thật”, chưa
rút ra được bài học nầy. Cho mãi đến mới vừa
đây, qua cuộc phỏng vấn của đài RFA 5/7/2006, Giáo sư
Larry Berman mới nói lên, thiết nghĩ là một sự thật vô cùng quan
trọng cho nhân dân Mỹ: “Có rất nhiều
sai lầm trong chính sách mà
Hoa
Kỳ bắt đầu liên can vào VN từ thời TT Roosevelt,
khi vừa mới đắc cử nhiệm kỳ thứ tư
(1944). Cố TT Roosevelt là
một vị lãnh đạo rất sáng suốt, đúng là một
trí thức chân chính, vô cùng quý giá, không những
cho nhân dân Hoa Kỳ mà cho thế giới. Ông nhận thức ba vấn
nạn thế giới lúc bấy giờ là Thực dân, Phát
xít, và CNCS. Hoài bão hàng
đầu của ông là hình thành Liên Hiệp Quốc (LHQ),
trước mắt là giải trừ CNTD, sau ÐIITC sẽ
không còn thuộc địa nữa. Ông cảm nhận rất sâu
sắc khổ nạn tột cùng của dân tộc VN sau
gần 100 năm dưới sự bốc lột đến tận
xương tủy của của thực dân Pháp. Ðể ngăn ngừa làn sóng CS đang
bành trướng ở Trung Hoa và sẽ tràn xuống ÐD, và
đồng thời thực hiện chủ trương giải
thực, ông quyết tâm không cho Pháp trở lại ÐD sau
ÐIITC. Ðây thật là cơ
hội ngàn vàng của dân tộc VN.
Ông ý thức rất mạnh mẽ chính
quyền tự quyết dân tộc là phương sách hữu
hiệu để ngăn chận làn sóng đỏ. Ông nhắc
lại ý định nầy ở Hội nghị (HN)
Về
sau cố TT Kennedy ý thức được “sự thật”,
chia sẻ quan điểm của TT Roosevelt. Khi là dân biểu đi thăm VN vào tháng 11
năm 1951, trong buổi họp tại tòa đại sứ Mỹ
ở Sàigòn, ông luôn miệng hỏi làm cho Ðại
sứ Health rất khó chịu: ”Tại sao người Việt
phải chiến đấu bên cạnh người Pháp để Pháp
giữ quê hương họ như là một thuộc địa? Tại
sao chúng ta phải hùa theo người Pháp, một quốc gia
đang cố gắng nắm giữ tàn tích đế quốc
ở ÐD?” (trang 76, VLBO).
TT
Kennedy rất dứt khoác với quan điểm nầy trong
suốt nhiệm kỳ (1960-1963).
Trong mỗi lần họp Hội đồng An ninh, ông
luôn khẳng định: “Cuộc chiến này là của
nhân dân VN. Chỉ có họ
mới có thể thắng cuộc chiến này. Nếu có thua là định mệnh
họ thua. Mỹ không thể
thay họ để thắng. Việc làm tối đa
của nhân dân Mỹ là yểm trợ cố vấn và
tiếp liệu.” Ông bác bỏ
mạnh mẽ áp lực đưa quân Mỹ tham chiến, vì
cho đây là sai lầm trầm trọng không thể chấp
nhận. Ngày 10/2/1963 ông
loan báo kế hoạch rút đoàn quân cố vấn, khởi
đầu 1.000 quân trước cuối năm 1963 và sẽ hoàn tất
trước 1965 (trang 79, In Restropect, McNamara). Ngày 11/22/1963, ông bị ám sát. Chính sách của ông là đúng đắn,
như nhận định của Larry Berman, nhưng ông có trách
nhiệm về cái chết của TT Ngô Ðình Diệm
(NÐD).
Rất
tiếc, Johnson kế nhiệm, không rút kinh nghiệm
người đi trước, đi chệch hướng. Ngày 11/24/1963, ông nhấn mạnh
với ông Lodge, Ðại sứ Mỹ ở VN, chính sách là
phải thắng cuộc chiến nầy, đảo ngược
180 độ chính sách Kennedy với Nghị định An ninh NSAM
273 (trang 102, In Restropect, McNamara), chỉ trong vòng không
đầy 2 tháng kể từ ngày 10/2/1963, ngày Kennedy loan báo rút
quân. Thế rồi ngày
8/3/1965, hai tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến Mỹ
đổ bộ lên Ðà Nẳng với nhiệm vụ tác
chiến, điều tối kỵ đối với Kennedy mà
McNamara phải biết qua những buổi họp an ninh (In
Restropect). Số quân
được ồ ạt đổ vào, biến CTVN thành chiến thành
chiến tranh của Mỹ,
làm bộc phát phong trào Phản
chiến. Ðây là
một quyết định định mệnh cho cả hai dân
tộc Hoa Kỳ và VN, mà Quốc hội Hoa Kỳ cần
phải học kinh nghiệm vì đã thông qua Nghị
quyết vịnh Bắc Việt (Tonkin Resolution). Nhưng phải chăng Larry Berman
vẫn chưa thấy hết sự thật và nói lên được
bài học khi ông nêu việc “Mỹ đã đưa hơn nửa
triệu quân vào VN và 58.000 quân hy sinh” để chỉ trích
nhận định của nhiều người VN, mà ông cho là sai
lầm, khi nói rằng người Mỹ không thật
tình quyết tâm hoàn thành mục tiêu chính trị
“độc lập, tự do cho VN.”
Bài học cho nhân dân
Hoa Kỳ (TGTD)
Hôm
nay nhìn lại CTVN đối với Hoa Kỳ. Sự
thật phải công nhận là Hoa Kỳ và TGTD đã
thảm bại trong cuộc chiến nầy. Hiểu khác đi nào là “chiến
lược toàn cầu”, nào là “quyền lợi quốc gia”…
để biện minh cho sự thảm bại là không ổn,
không thấy “sự thật”, không rút ra được bài học. Một số suy nghĩ về bài
học xin mạo muội chia sẻ:
1.
Xuyên qua cuộc chiến Hoa Kỳ và TGTD không thấy
“sự thật” của CTVN, ngoại trừ cố TT
Roosevelt và Kennedy. Từ đó, sức mạnh đích thực
để ngăn chận CS là quyền
tự quyết dân tộc. Johnson ào ạt đổ quân vào
là bắt đầu triệt hạ sức mạnh nầy và
bắt đầu thua, khi Nixon mật đàm với CSBV là thua
nặng.
2.
Người đi sau không học bài học, nhận thức
của người đi trước.
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thường nói: “When we loose, don’t loose the lessons”.Năm
1954 không những Pháp thua, mà Hoa Kỳ và TGTD đã thua,
vì CS đã chiếm phân nửa VN. Rồi cứ tiếp tục
“loose” năm 1975 dâng cả nước VN cho CS.
3.
Binh thư Tôn Tử lại nói: “Biết
người biết ta trăm trận trăm thắng, biết ta mà
không biết người trăm trận trăm thua”. Hoa Kỳ không
biết “Ta” mà cũng không biết “Người”. Yếu tố
“Ta” đây, quan trọng nhất là “dân tộc VN”, mà đặc
điểm là truyền thống bất khuất, lịch
sử đã ghi rất rõ. Còn “Người” là CSBV,
đâu là sức mạnh của nó? Xin xem Phần 2
Ðây
là sự thiếu sót lớn của những thức
giả TT Mỹ; đáng lý ra “sự thật” nầy
phải được nói lên từ lâu, trể nhất là khi Johnson
tuyên bố bỏ cuộc không ra ứng cử nữa!
Hy
vọng những suy nghĩ mạo muội trên đây đóng góp
phần nào việc nhận ra”sự thật” CTVN, nếu né
tránh, nhân dân Mỹ sẽ phải trả cái giá triền miên
không biết đến bao giờ vậy.
Ðạo lý nhân loại
xuống dốc đến bao giờ? Sự chệch hướng
của Thế giới
Vì
lòng tham và đạo đức suy đồi, thế giới
trải qua CNTD, rồi CNTD phá sản lại biến
dạng thành TBBC cuồng tín chạy theo đô la (CNÐL) làm
giàu. Ðạo lý càng ngày
càng xuống dốc thêm, bên cạnh đó, do không nhận ra “sự thật” khổ nạn nên
thế giới đi chệch hướng, không giải trừ
khổ nạn mà lại hóa ra
đồng lỏa với “trường phái đạo lý suy
đồi” (ÐLSÐ). Thầy Lý Hồng Chí nhận định
rằng, hiện nay đạo
lý nhân loại đang tuột dốc đến mức vô cùng
nguy hiểm.
a.
LHQ – Sau khi Nhật đầu hàng, ÐIITC kết thúc, TGTD
biểu tượng là LHQ không những không làm tốt chức
năng, hoài bão của người sáng lập mà còn đi
chệch hướng, can dự sai lầm vào CTVN. Ðây là thời cơ ngàn vàng cho dân
tộc VN độc lập, thực hiện quyền Dân
Tộc Tự Quyết. Chính
sự chệch hướng duy trì sự hiện diện
của Pháp làm cho CS phát triển và đưa CSVN qua những “hào
quang” với hai hội nghị: HN Genève, 1954, thực
chất là HN giữa Pháp và CS (hào quang thắng Pháp), rồi
đến 1973, thực chất là HN giửa Mỹ và CS, hào
quang thắng Mỹ. Dân
tộc VN chính danh đã bị gạt qua bên lề mọi
cuộc trao đổi!
Lãnh
đạo LHQ không thể không hiểu “sự thật” CTVN,
không thể không nhận diện CSVN. Thật khó hiểu về việc
hành xử của 14 nước đại diện LHQ chuẩn
nhận HN Paris, hợp pháp hóa sự xăm lăng của CSBV,
một tội ác. Rồi
Kissinger và Lê Ðức Thọ được giải thưởng
Hòa bình! Ðâu là tiêu chuẩn cao quý của
giải thưởng nầy? Quý vị có thật sự
tin là HN Paris đem lại hòa bình cho dân tộc VN
không? Sau đó, những gì xảy ra cho nhân dân Việt
Thế
rồi hôm nay, hơn 30 năm trôi qua ròng rã những
gì xảy ra cho đất nước và dân tộc Việt
Nam, tưởng rằng thời gian và thực tế quá đủ
để LHQ, Hoa Kỳ và TG thức tĩnh nhận thức đâu
là “sự thật”. Ngày 10 / 25 /07, toàn bộ HÐBA 19
phiếu thuận, nhất trí thông qua sự gia nhập
của CSVN là thành viện không thường trực HÐBA,
thật vô cùng khó hiểu. Không một thành viên nào nhận
diện CSVN mặc dầu TG đã trả cái giá quá đắc để ngăn
chận nó và cũng không một thành viên nào thấy đâu là
khát vọng của dân tộc VN.
Ðâu
là hoài bão của Cố TT Roosevelt, một thành viên có
công đầu sáng lập LHQ. Vong linh ông còn hiển linh
chắc phải vô cùng thất vọng thấy LHQ đã trở thành như
“trò đùa”. cho CNÐL. Hiến Chương Quốc Tế Nhân
Quyền thiết lập cách nay đã 59 năm, một văn
kiện Quốc Tế, một công sức thành quả vô
cùng quý giá, một hoài bão hàng đầu của
những vị sáng lập đã bị vứt vào xọt
rác. Nếu thực thi nghiêm chỉnh, những mầm móng
độc tài đã bị triệt tiêu ngay từ trong trứng
nước bởi chính nhân dân của nước đó vậy. Không cần dẫn chứng
ÐCSVN thực chất là một đảng cướp, khủng
bố, là thủ phạm vô số những chiến sĩ
tự do nay lại hầu hết lãnh đạo hàng
đầu thế giới mở cửa đón tiêp nó bình
thường.
Nếu
tôi nhớ không lầm và nhận định không chủ quan
thì sau HÐ Genève, trong bối cảnh VN lúc bấy
giờ, CNCS mặc chiếc áo VM yêu nước ảnh
hưởng rất mạnh. Do đó,
mục tiêu số 1 cho Vatican và Hoa Kỳ là người
lãnh đạo miền
b.
Vũ lực - Một dẩn chứng rõ nét nhất
của sự chệch hướng trong việc dùng “vũ
lực” để giải trừ CNCS là CTVN, Hoa Kỳ và CÐTG dùng vũ
lực tối đa rồi. Bao
nhiêu sinh mạng đã bị giết và tài nguyên phung phí
trong cuộc chiến nầy, cuối cùng đã đưa CSBV, dân
số khoảng 30 triệu, lên đỉnh hào quang tháng 4/1975 và
dân tộc VN về đâu? Chính
sự chệch hướng nầy đã đưa đến việc
chạy đua vũ trang với hậu quả tai hại vô
cùng lớn lao.
Nhưng
sức mạnh nào đã đưa
các chế độ CS Ðông Âu và Liên Xô xuống huyệt? Xin thưa đó là “sự thật” là
thức tĩnh sự u tối, mù quáng của chính các dân
tộc nầy đã triệt tiêu công lực của CS. Sức mạnh của “sự
thật” là vô song vậy.
c.
Phát triển - Sau đó lại đến các cơ chế quốc
tế khác như WTO và APEC chệch hướng. Sau HN APEC cuối năm 2006 tại Hà
Nội, nghe nói CSVN được tài trợ gần 10 tỷ
mỹ kim để phát triển.
Phải chăng thế giới lo sợ CSVN sụp
đổ? Trong số 21 nguyên
thủ quốc gia tham dự HN, có
bao nhiêu vị chia sẻ nhận thức của Thủ
tướng
Ðúng
thế thưa Thủ tướng, vì CNÐL do trường phái
Ðạo lý Suy đồi vẫn còn phát triển
mạnh, mà tiêu chuẩn đạo đức thì đã thay
đổi. Theo NQ 1481 của
Nghị hội Âu Châu, CSVN là một tội phạm
chống nhân loại, nay lại được dễ dàng trở thành con người lương
thiện sinh hoạt bình thường trong các cơ chế
quốc tế.
Tuy
nhiên CNÐL đối với những quốc gia nào khác
thì còn tạm hiểu, chớ đối với quốc gia đã có quân đội
tham chiến, xương máu con dân mình đã đổ trong CTVN,
đặc biệt là Hoa Kỳ, thì cái giá nó thật quá
lớn lao. Giải thích thế nào với lịch sử,
với nhân dân Mỹ và những người đã hy sinh
vì lý tưởng Tự do trên chiến trường VN ?
Tình Trạng Báo
Ðộng CNÐL
Cái
đáng sợ hiện nay mà nhân loại phải đương đầu là
đạo đức con người vẫn xuống dốc. Rõ ràng nếu ngày tận
thế định mệnh chưa đến chu kỳ, như những di
tích lịch sử dẩn chứng đã xảy ra
nhiều lần, thì chính cái cuồng tín CNÐL sẽ
hủy diệt nhân loại qua sự chạy đua vũ trang,
phát triển kỹ nghệ, khai thác thiên nhiên để làm giàu.
Ngày
4/6/2007, LHQ có phổ biến một phúc trình mới
nhất của tổ chức của hơn 2000 khoa học gia
môi trường IPCC tiên đoán viễn ảnh ngày tận
thế. Ðó là hậu
quả của sự hâm nóng địa cầu và thay đổi khí
hậu sẽ đưa đến tình trạng ngập lụt
và hạn hán kinh khủng.
Hằng trăm triệu người thiếu nước và
thức ăn vào khoảng cuối thế kỷ nầy, và
không cách nào đảo ngược, chỉ có thể làm chậm
lại thôi. Chỉ cần
đến năm 2050 là tình trạng hạn hán, thiếu
nước đã trầm trọng rồi và có khả năng
chiến tranh vì thiếu nước.
Gần
đây cuốn phim tài liệu về sự thay đổi thời
tiết được giải thưởng Osca của cựu Phó TT
Al Gore cũng nói lên viễn ảnh trầm trọng
nầy. Ngày 21 tháng 3, ông Al Gore
đã đưa ra lời cảnh cáo nghiêm trọng trước
Quốc hội Hoa Kỳ là hãy hành động khẩn
cấp để đảo ngược tình trạng
địa cầu ấm lên “đe dọa sự sống còn
của nền văn minh chúng ta và môi trường sống trái
đất”.
Tình
trạng thật là bi đát, viễn ảnh ngày tận thế
không tránh khỏi vậy. Ngày
ấy quý vị là những tỷ phú làm giàu không lành mạnh,
cùng với gia đình con cháu qua bên kia thế giới không
mang theo được một đô la nào mà mang theo một núi
nghiệp.
Sự chệch hướng
của Hoa Kỳ
Hoa
Kỳ là một siêu cường lớn nhất, nên sự
chệch hướng của Hoa Kỳ sẽ vô cùng tai hại
cho thế giới. Ông Algore, sau khi ông thực hiện
cuốn phim ”An Unconvenient Truth (Sự thật Khó nghe)” và Khi
đề cập đến việc Mỹ rút tên ra khỏi HN
Kyoto, ông nói: ”Nước Mỹ lâu
nay đã đi lạc hướng.
Ðã đến lúc Hoa Kỳ cuối cùng phải
nhận lãnh một vai trò lãnh đạo
thực sự... Với
tư
cách của nền kinh tế lớn nhất thế
giới và siêu cường lớn nhất, chúng ta ở vào
vị trí độc nhất để đối phó một vấn
nạn ở tầm mức nầy”.
Ðúng
thế, quốc gia Hoa Kỳ có khả năng nhất để
đối phó với mọi vấn nạn lớn lao và có
khả năng xây dựng cho mình một quốc gia “Free
khổ nạn”. Cốt
lỏi những khổ nạn lớn lao mà nhân dân Hoa
Kỳ đã trải qua như
Nhân
đây xin mạn phép ghi lại một phần nội dung bài
diễn văn từ giả Quốc dân của cố TT
Eisenhower ngày 17 tháng 1 năm 1961. Cố TT Eisenhower là một
vị tướng, làm TT hai nhiệm sau khi rời quân
ngũ. Trong diễn văn
nầy, ông cảnh báo người dân Hoa Kỳ về 2
hiện tượng mới trong xã hội. Một là Hoa
Kỳ có một quân lực vĩ đại, là sức mạnh
bảo vệ hòa bình cho nước Mỹ. Hai là sự hiện hữu
của một kỹ nghệ quân sự lớn lao. Chúng ta không thể không thấy ra
hậu quả. Ðó là sự
cấu kết của tập đoàn kỹ nghệ chiến
tranh trong bộ máy chính quyền để ảnh hưởng
tới thủ tục ngân sách quốc gia. Ông báo động rằng thủ
tục ngân sách trong Quốc hội có thể bị các
thế lực nầy vô tình hay cố ý chi
phối và người dân nên ý thức được điều
ấy để bảo vệ các quyền tự do,và tiến
trình dân chủ.
Hôm
nay Hoa Kỳ trở lại can dự vào Việt Nam chính sách
quay ngược 180 độ, giúp nó phát triển, mục tiêu xây
dựng nó thành đồng minh mạnh trong chiến lược
đối đầu với Trung Cộng. Thật vô cùng đau xót cho
những ai đã hy sinh cho CTVN trước đây. Ðiều nguy
hiểm là chính sách nầy lại vẫn là sự chệch
hướng. Có 2 “sự thật” vẫn chưa thấy. Thứ nhất, sức mạnh có
từ VN là dân tộc VN, chớ không phải chế độ
CSVN. Thứ hai, mưu cầu “vũ lực” để giải
trừ vấn nạn TQ là chệch hướng là đi vào vết
xe cũ. Nên nhớ TQ đang gia
tăng 40 tỷ cho kinh phí quốc phòng năm nay và nhiều
nước đang chưa chịu từ bỏ vũ khí hạt
nhân! Putin lăm le bỏ trở lại
con đường độc tài! Phải chăng phải trở lại
“chạy đua vũ trang”?
Tránh Sự Chệch Hướng
(CH) của TG hay Sinh Lộ Cho Nhân Loại
Tóm
lại, Ðạo Ðức Suy Ðồi, CNÐL đưa
đến “TG Chệch Hướng ” là nguyên nhân khổ nạn
triền miên các dân tộc và thảm họa nhân loại.
Sự chệch hướng hiện nay đã đến mức
cự kỳ nguy hiểm. Sức mạnh đích thực
giải trừ không phải là chủ thuyết cao
siêu,ý thức hệ, không phải vũ lực, vũ
khí hạt nhân, hay tôn giáo và cũng không phải là phát
triển mà là “sự thật”, và” lẽ phải”, Sứ mạng của Trí
Thức Chân Chánh (TT).
Do
đó để tránh sự CH là lãnh đạo các cơ chế
Quốc Tế đặc biệt là LHQ, các cộng đồng, các
cường quốc (gọi chung là Cộng Ðồng Thế
Giới TG) phải là những TT. TT mới thực sự lắng nghe, thực sự
đối thoại, nhận thức gần “sự thật”
nhất, và trên hết là giải quyết trên căn bản
đạo lý, là sức mạnh vô biên.
Hiện
nay hầu hết các nước trên thế giới, nếu tôi
không lầm khoản 180 /192 nước là có chế độ Dân
Chủ. Nếu mọi công dân ý thức trách nhiệm
biết quan trọng lá phiếu, tìm hiểu, theo
dỏi chính trị đi bỏ phiếu thật đông chọn
bầu đúng lãnh đạo là những TT không phải là
việc không thể làm được vậy.
Ðối
với Hoa Kỳ,một siêu cường mạnh nhất
thế giới, sự CH vô cùng tai hại. Do đó lá phiếu
công dân Hoa kỳ là quan trọng bật nhất, chịu khó
theo dỏi tìm hiểu chính trị, đi bầu thật
đông. Dân Chủ hay Cộng Hòa không thành vấn đề mà
quan trọng nhất phải là người TT, thiển nghĩ
bỏ phiếu người TT không phải đảng mình
vẫn hơn là người không phải TT thuộc đảng
mình.
Như
thế TG sẽ đi đúng hướng và việc giải trừ
một số ít nước độc tài còn lại trong đó
quan trọng nhất là TQ. không là vấn nạn lớn.
Hiện
nay có Tòa Án Hình Sự Quốc Tế Ðặc
Biệt do LHQ thành lập xét xử tội ác CS
Tuy
nhiên, tôi tự hỏi Tòa mang tên“Tòa Án Ðặc
Biệt”, phải chăng là sau khi xử xong, có bản án cho
tập đoàn Pol Pot rồi Tòa giải tán ?
Nếu
đúng vậy thì Công Lý chỉ nửa vời, Polpot
không là thủ phạm duy nhất. CSVN không những có trách
nhiệm không nhỏ về biến cố thảm sát
nầy. Bên cạnh đó dân tộc VN cũng cần đưa CSVN ra
công lý cũng cùng tội phạm. Thêm vào đó CSVN còn
có cái tội gian dối, núp dưới danh nghĩa MT lừa
bịp TG và cái tội xé bỏ HÐ, ngay sau khi ký có LHQ
chuẩn nhận, không coi quốc tế ra gì. ÐCSVN
từ đâu đến có quyền gì cai trị dân tộc VN.
Hãy trở lại cái MLP HÐ Hòa Bình Paris
vậy.
LHQ
và đặc biệt là Hoa Kỳ vì công lý, vì
trách nhiệm lớn lao với dân tộc VN, với nhân dân
Hoa Kỳ và thế giới phải mở rộng Tòa
Án nầy đưa công lý đến cả 3 dân tộc ÐD.
Trước đậy nhiều tổ chức Cộng Ðồng
Tỵ Nạn VN cũng đã xúc tiến gởi thỉnh
nguyện thư lên LHQ nhưng không kết quả. Có thể chưa
đến lúc, hôm nay rất nên nghiên cứu lại, đặc
biệt là Hội Luật Sư Người Việt Tỵ
Nạn.
Thực
hiện được công cuộc nầy là trả lại
“sự thật” cho lịch sử. Hoa Kỳ và LHQ mới
xóa được vết nhơ đi vào lịch sử, nhất là
lịch sử Hoa Kỳ. Và mới đúng là màn kết của
CTVN vậy.
Kết luận.
TG
đã đi CH vô cùng nguy hiểm, không thể chần chờ,
cần có hành động khẩn trương cụ thể. “Sự
thật” và “lẽ phải” (công lý) là sức mạnh
vô song, không vũ khí gì có thể sánh là “Sinh Lộ Cho
Nhân Loại”, sứ mạng của người Trí Thức Chân
Chánh. Xin mạo muội có những suy nghĩ sau đây:
1
Chấm dứt sự viện
trợ phát triển những chế độ độc tài,
đặc biệt là độc tài CS. Chỉ nên viện trợ
nhân đạo và cho kế hoạch nâng cao dân trí, khôi phục TT
đã bị Văn hóa độc tài triệt tiêu, phơi bày “sự
thật” trong nhân dân. Thiết lập những “Thư Viện
Quốc Tế” càng nhiều càng tốt ở những
quốc gia độc tài. Lực lượng TT phát triển
tốt là độc tài phải ra đi.
2.
Vận động mở rộng Tòa Án Ðặc Biệt
3.
LHQ, khi mới thành lập việc phải có mặt của
Liên Xô trong HÐBA là việc tranh cãi gay go của
những người sáng lập.Trước tình hình lúc
bấy giờ có thể tạm hiểu. Thế nhưng sau
đó,TQ là thành viên thường trực Hội Ðồng Bảo
An LHQ là sự CH của LHQ không thể biện minh.
Và
“dù sao lại cũng là
chuyện đã rồi”. Thế nhưng gần đây Ủy
Ban Thế Vận Olympic lại cho phép TQ tổ chức
Thế Vận 2008. Thật vô cùng khó hiểu. Thế
vận Olympic biểu tượng tính chất cao quý
của nhân loại và chế độ Bắc Kinh biểu
tượng sự đối nghịch. Ngọn đuốc Olympics
được xem như ngọn đèn chiếu sáng nguyện vọng cao
đẹp của thế giới, được chủ trì do
một chế độ vi phạm nhân quyền trầm
trọng nhất thế giới là một sự đùa
giởn, một vết nhơ lịch sử Olympics. Không
thể quên Thế Vận 1936 đã giúp Hitler như thế nào
? Sự thành công tốt đẹp Olympics 2008 của TQ sẽ
là một đại họa cho nhân loại.
Không
thể chần chờ TG hãy “Phát động Phong Trào Tẩy Chay Thế
Vận 2008”. Ðây là thời cơ ngàn vàng cho TG sửa sai CH
trước khi quá trể.
Ngoại
trừ TQ phải thức tĩnh tỏ thiện chí ngay
bắng hành động cụ thể thực hiện Tự Do
Ngôn luận,Tự do Thông Tin, chấm dứt chính sách bành
trướng bá quyền vi phạm nhân quyền, làm gương tuân
thủ nghiêm túc những điều khoản quan trọng
của LHQ (Hiến Chương Nhân Quyền, Công Ước Quyền
Chính Trị và Dân Sự).
Dĩ
nhiên là không dễ dàng nhưng phải làm, kết quả không
nhiều thì ít, không có sự chọn lựa.
TG
cần phải quyết tâm điều chỉnh sự CH
của mình, hướng đến xây dựng một
“Cộng Ðồng TG Chân Chính”, là “Sinh Lộ cho Nhân
Loại” và “Trí Thức Chân Chính” là chìa khóa vậy.
Nguyễn Diệp Phong
Rncho Sta Margta, Mùa
Giáng Sinh 2007