Thân gửi
người bạn Thụy-Điển.
--------- Trần Tam Tiệp----------
Trong
khung-viên đầy nắng của thánh-đường San
Giorgio ở Venise, tôi được hân-hạnh tiếp
chuyện với Marianne E. và Inger A. trong phái đoàn Văn-bút
Thụy-Điển đi dự Đại-hội
Văn-bút Quốc-tế do Văn-bút Ư tổ-chức, và
trong câu chuyện trao đổi về việc Văn-bút
Thụy-điển chấp-thuận mời một nhà
văn Việt-Nam hiện c̣n đang bị giam-cầm làm
hội viên danh-dự của Văn-bút Thụy-Điển,
chúng tôi có thảo-luận qua về t́nh-h́nh hiện tại
ở Việt-Nam. Và từ câu chuyện trao đổi này,
tôi có ư-định viết bức thư này gửi
đến cho bạn, một người bạn Thụy-Điển
tôi chưa từng được quen biết, nhưng
từ năm 1970 hồi c̣n ở Việt-Nam và đến
nay 1983, người Việt-Nam chúng tôi vẫn nói nhiều
về Thụy-Điển.
Trước
hết tôi xin tự giới-thiệu: Tôi là một trong
số một triệu người Việt-Nam phải
rời bỏ quê-hương khi quân-đội
Cộng-sản toàn chiếm nước tôi; nhưng
trước đó, từ năm 1946 đến năm 1950
tôi đă gia-nhập kháng-chiến để chống
lại thực-dân Pháp; sau đó dưới chính-quyền
Nguyễn Văn Thiệu, đă dùng ng̣i bút để
chống lại những bất-công, tệ-đoan
xă-hội, và hai cuốn sách của tôi viết về
chính-sách của Hoa-Kỳ: “Hoa-Kỳ Bốc Lửa” và
“Đế-Quốc Xanh” đă không được
chính-quyền Nguyễn Văn Thiệu cho xuất-bản,
nên phải quay “ronéo” để đồng-bào tôi
được đọc.
Sở-dĩ
tôi phải tự giới-thiệu như vậy,
để anh chị thấy tôi không thuộc một
đảng-phái chính-trị nào, mà chỉ làm bổn-phận
của một công-dân yêu nước, chống lại
những xâm-lăng của ngoại-quốc; làm bổn
phận khi đất nước cần đến ḿnh,
luôn luôn tranh-đấu cho tự-do, cho lẽ phải và
công-b́nh.
Thưa
các anh chị, trong những năm xảy ra cuộc
chiến giữa hai khối Tư-bản và Cộng-sản
mà Việt-Nam chúng tôi là nơi (mà) hai bên dùng để
thí-nghiệm vũ-khí mới sáng-chế, hay là dùng
đất nước tôi như một con bài chính-trị,
th́ hầu hết nhân-dân Thụy-Điển đă ngả
về khối Cộng-sản v́ các anh chị đều
nghĩ và tin là người Cộng-sản Việt-Nam
đang dẫn-đạo một cuộc “thánh-chiến”,
một cuộc chiến-đấu để giải-thoát
dân-tộc ra khỏi tay Hoa-Kỳ, một thứ thực-dân
mới. Không riêng ǵ dư-luận Thụy-Điển, mà
hầu hết dư-luận thế-giới đều
nghĩ
Báo-chí,
truyền-h́nh, tuyền-thanh đă bị mua chuộc,
đầu-độc để viết những bài,
những phóng-sự có lợi cho Cộng-sản; trong khi
Hoa-Kỳ, năm 1969 sau khi bắt tay được
với Trung-Cộng, con bài quân-sự dùng Việt-Nam
để khống-chế Trung-Cộng không c̣n cần
thiết nữa, họ đă quyết định bỏ
rơi miền Nam Việt-Nam cho Cộng-sản để
đánh đổi ḥa-b́nh ở Trung-đông. Nhân dân không theo
CS phải chiến-đấu một ḿnh, không
được sự giúp đỡ của người
bạn đồng-minh lúc ban đầu là Hoa-Kỳ; ngoài
ra, dư-luận ngoại-quốc lại quá ác-nghiệt
với họ qua hành-động bất-xứng của
một vài cá-nhân lănh-đạo; v́ thế việc ǵ bắt
buộc xảy ra, đă xảy ra, đó là ngày 30-04-1975, ngày
miền Nam Việt-Nam rơi vào tay Cộng-sản.
Tất
cả thế-giới, trong đó có các bạn, đă
sung-sướng thở-phào v́ chiến-tranh đă chấm
dứt tại Việt-Nam, và nghĩ là ḿnh đă nghĩ
đúng, ủng-hộ đúng là đă giúp cho dân-tộc
Việt-Nam, đánh đuổi được thực-dân
Hoa-Kỳ cũng như năm 1954 đă đánh đuổi
được thực-dân Pháp; và sau ngày 30-04-1975,
chính-phủ Thụy-Điển và một số các
nước khác đă tới tấp viện-trợ
nhân-đạo cho Việt-Nam để hàn gắn những
vết thương đó, gây ra bởi chiến-tranh,
để xây-dựng và kiến-thiết lại một
xứ-sở mà nhiều năm không lúc nào ngừng tiếng
súng.
Chính-phủ
các nước tự-do trên thế-giới, trong đó có
Thụy-Điển, đă gửi
chuyên-viên sang xây-cất nhà thương, nhà máy giúp
Việt-Nam tái-thiết. Các bạn Thụy-Điển
hẳn trong ḷng c̣n giữ h́nh ảnh Thủ-tướng
Phạm Văn Đồng, trong những năm c̣n
chiến-tranh ở Việt-Nam, khi đến
Thụy-Điển đă cùng các bạn trẻ xuống
đường, rước đuốc ở Stockholm
để đ̣i ḥa-b́nh cho Việt-Nam.
Ôi c̣n sung-sướng, c̣n hài ḷng nào hơn khi chính
ḿnh đă góp sức, góp công, góp của vào việc mang
lại ḥa-b́nh, giải-phóng, thống-nhất cho một
dân-tộc mấy chục năm ch́m-đắm trong
chiến-tranh.
Nhưng từ sau
30-04-1975, các bạn đă thấy những ǵ xảy ra
tại Việt-Nam?
Ḥa-b́nh đă thật sự trở lại
Việt-Nam chưa khi hàng triệu thanh-niên nam nữ, thay v́
được thay đổi bộ quân-phục mà mấy
chục năm họ phải mặc để
chiến-đấu hết chống Pháp rồi chống
Mỹ, bây giờ họ vẫn phải mặc để
sang xâm-chiếm Kampuchéa, Lào hoặc trấn-đóng dọc
theo biên giới Việt-Hoa; mà đáng lẽ họ phải
được cắp sách đến trường,
đến xưởng, ra đồng ruộng để
học, để làm việc, xây-dựng lại một
nước Việt-Nam đă kiệt-quệ v́
chiến-tranh và quá lệ-thuộc vào người
ngoại-quốc.
Đêm
đêm không c̣n tiếng bom, tiếng hỏa-tiễn nổ
tan xác trẻ em, đàn bà; ban ngày không c̣n xe
tăng cày nát mặt đường và cũng không c̣n
tiếng phi-cơ xé không-khí mang theo chết-chóc cho
dân-tộc Việt-Nam. Những người trẻ
Việt-Nam đâu được xum họp cùng gia-đ́nh,
mang sức ra để tái-thiết quê-hương; trái
lại, họ phải sang Miên, Lào để thực-hiện
cho bằng được giấc mộng cuồng-ngông:
xát nhập Miên, Lào vào Việt-Nam để tạo thành
một căn-cứ địa quan-trọng cho Nga-xô
sử-dụng để khống-chế
Thái-B́nh-Dương và Ấn-Độ-Dương; hoặc
ra ngoại-quốc tại vùng băng lạnh
Tây-Bá-Lợi-Á mang sức lao-động để trả
nợ (chiến-phí) cho Nga-Xô.
Ḥa-b́nh đă thực-sự
trở lại Việt-Nam chưa?
Khi hàng trăm ngàn công-chức, quân-nhân thuộc
chế-độ cũ c̣n bị giam tại các trại
cải tạo? Thậm chí các nhà trí-thức,
văn-nghệ-sĩ dù ở chế-độ trước
không làm ǵ cũng bị bắt giam từ ngày đầu
30-04-1975 cho đến bây giờ vẫn chưa
được xét-xử.
Phạm
Văn Đồng đă tuyên-bố: “Làm ǵ có biển máu
khi chúng tôi chiến-thắng miền
Sau tám
năm thống-nhất, ḥa-b́nh, số người trong
quân-đội cũng như hành-chánh, văn-nghệ-sĩ
c̣n bị giam giữ trên 200 ngàn người, như thế
ta c̣n có thể tin vào chính-sách ḥa-hợp của nhà cầm
quyền CSVN được không?
Thưa
các anh chị, cuộc thanh-trừng, trả thù bằng máu,
nước mắt và đói khát dù dă man, đau khổ
nhưng chỉ là cuộc trả thù nhất thời, có
thể một thế-hệ, hay cùng lắm là hai
thế-hệ người dân Việt-Nam sẽ chết
để Cộng-sản tạo một lớp
người khác hoàn-toàn theo ư muốn
của họ. Nhưng bên cạnh đó, có một cuộc
trả thù thâm-độc hơn nhiều, không có máu đổ,
không có nước mắt rơi, không có bụng đói,
cật rét nhưng tàn-khốc vô cùng, đó là cuộc triệt-hạ,
tiêu-hủy hết tất cả công-tŕnh văn-hóa từ
khi lập quốc đến nay ở các thư-viện,
nhà bảo-tàng ở miền Nam.
Người CS đă ra
lệnh cho đốt hết tất cả những
tài-liệu lịch-sử, những công-tŕnh sáng-tác,
những áng văn-chương có từ hàng ngh́n năm
trước, được mang từ ngoài Bắc vào trong
miền Nam năm 1954 và được nâng-niu cất
giữ v́ những cái đó là nhân-chứng cho nền
văn-hóa, văn-minh Việt-Nam. Họ đă ra lệnh
đốt hết, những vật báu ở
Bảo-tàng-viện được mang về nhà họ làm
của riêng hay bán ra ngoại-quốc lấy tiền bỏ
túi; ngoài ra họ c̣n bắt giam tất cả văn-nghệ-sĩ
để những người này không c̣n sáng tác
được nữa, và thay vào đó, những
người lănh-đạo Việt-Nam, viết lại
lịch-sử Việt-Nam, theo biện-chứng Karl Marx.
Lịch-sử
hơn bốn ngàn năm của Việt-Nam được
viết lại do những ng̣i bút của của
Đảng Cộng-sản, do chỉ-thị của
Đảng đề ra, và bây giờ người dân
Việt ở tại Việt-Nam phải học
lịch-sử Việt-Nam với thời kỳ dựng
nước bắt-đầu từ hang Pắc Bó, chỗ
Hồ Chí Minh trú-ngụ khi đánh thực-dân Pháp.
Người
lănh-đạo Việt-Nam muốn dùng nhà tù để
tiêu-diệt từ từ tất cả những
người cầm bút yêu chuộng tự-do không đi theo
chủ-trương của họ, và họ đang thành-công
v́ số văn-nghệ-sĩ trong trại cải-tạo
c̣n rất nhiều; số được thả rất ít
mà lại quá yếu đuối, bệnh tật, có
người về đến nhà là chết như nhà
thơ lừng-danh Vũ Hoàng Chương, hay phải
tự-tử trong tù như nhà văn Nguyễn Mạnh Côn.
Thưa
các anh, các chị, sau ngày 30-04-1975, trên đất
nước các bạn, ra ngoài đường hay đi
du-lịch, chắc chắn đă có dịp các bạn
gặp hoặc nh́n thấy một số người
Việt-Nam. Các bạn chấp-nhận cho họ tỵ-nạn
tại đất nước các bạn nhưng nhiều
khi các bạn thắc-mắc là tại sao ḥa-b́nh,
thống-nhất, đánh đuổi hết thực-dân
Pháp, đế-quốc Mỹ, sao những người này
không ở lại để kiến-thiết, xây-dựng
lại nước nhà mà lại bỏ ra đi? Phải
chăng đây là mhững phần-tử lười
biếng, sợ đói, sợ khổ, trốn ra
ngoại-quốc trong khi đất nước họ
cần tất cả mọi bàn tay
để hàn gắn lại vết thương do chiến
tranh gây ra? Thưa các bạn, trước khi trả lời
câu này, xin các bạn cho phép tôi trở lại một
giai-đoạn đau khổ của lịch-sử
Việt-Nam, đó là nạn đói năm 1945:
Ở miền Bắc Việt-Nam, khi người
Nhật thay thế người Pháp cầm quyền,
bắt dân phá lúa để trồng đay lấy sợi. Hệ-thống
giao-thông giữa Nam, Bắc bị phi-cơ đồng-minh
dội bom làm hư-hại, nên gạo miền Nam không mang ra
tiếp-tế miền Bắc được, phải đốt
thóc để chạy máy xe lửa. Kết-quả là hai
triệu dân miền Bắc bị chết đói do phát-xít
Nhật và thực-dân Pháp gây ra.
Hai triệu
người chết đói quả là một
thảm-cảnh lớn-lao của nhân-loại, nhất là
một nước bấy giờ có vào khoảng 20
triệu dân, như thế có 10% chết v́ đói.
Nhưng không một người dân Việt-Nam
nào, tôi xin khẳng-định là không một người
Việt-Nam tính chuyện bỏ nước ra đi.
Người Việt-Nam chúng tôi sống gần-gũi,
thân-thiết với ruộng đất, nhà cửa, mồ
mả ông bà, cha mẹ; phong-tục, tập-quán như
gắn liền họ vào quê-hương, v́ thế từ
làng ra tỉnh để học hành hay lập nghiệp
đối với một số người đă là
cuộc phiêu-lưu to-tát.
Tâm-t́nh
người Việt-Nam đă như vậy th́ tai sao sau ngày 30-04-1975 hàng triệu
người đă ùn-ùn bỏ nước ra đi? Họ
sẵn-sàng từ bỏ mọi thân-thiết nhất
của họ, bỏ lại tất cả mọi
ràng-buộc để ra đi. Ngoài con số
một triệu người may-mắn sống-sót và
hiện định-cư rải-rác khắp nơi trên
thế-giới, c̣n có ít nhất trên hai triệu
người đă đă bỏ ḿnh nơi biển cả hay
v́ đói khát ở rừng sâu, nước độc trong
lúc t́m đường lánh nạn Cộng-sản. Có phải v́ sợ đói mà họ ra đi như
lời tuyên-truyền của những nhà lănh-đạo CSVN
thường rêu-rao không? Hay tại họ sợ
khổ? Không, đến cái chết là một thứ
đáng sợ nhất, dù biết trước đi th́ 90%
chết, chỉ hy-vọng 10% sống, thế sao không có ngày
nào là không có người vượt biên t́m tự-do?
Chính-sách khắc-nghiệt, thù-hằn của CSVN
đă làm cho dân-chúng Việt-Nam phải bỏ nước ra
đi, dù họ biết đi có thể chết bởi muôn
ngàn hiểm-nguy trên biển cả. Phải
có một cái ǵ dễ sợ, tàn bạo hơn cái chết
mới làm họ đi vào cái chết để t́m cái
sống. Hàng ngàn người con gái Việt-Nam đă bị
quân cướp biển bắt, hăm-hiếp rồi bán vào các
nhà điếm. Hàng trăm ngàn người hiện ở
trong các trại giam để cho các nước
định-đoạt số-phận họ; những
người may mắn hơn, đến được
Âu-châu hay Hoa-Kỳ đang sống một cuộc sống
của con người máy; họ sống như
người chết biết cử-động mà thôi,
bởi tâm-tư họ luôn luôn hướng về
quê-hương.
Trong
số hơn một triệu người tỵ-nạn
ở hải-ngoại, chưa chắc đă có năm ngàn
người được dùng đúng khả-năng
của ḿnh trước kia ở
Việt-Nam.
Thưa
các bạn, qua báo-chí, chắc các bạn đă rơ phần nào
số tặng-phẩm của nhân-dân Thụy-Điển
cho nhân-dân Việt-Nam như những vật-dụng
để xây nhà thương, nhà máy, đă không
thực-hiện được v́ bị các cán-bộ
Cộng-sản lấy cắp mang đi bán, hay v́ lư do nào
đó họ vẫn chưa chịu cho xây cất để
cho các vật-liệu này hư-hỏng
hết v́ mưa nắng. Có thể họ thiếu chuyên-viên
hay nhân-công chăng?
Thế
th́ tại sao họ c̣n bắt hơn 200 ngàn thanh-niên qua
Kampuchéa, 80 ngàn qua Lào và hàng mấy trăm ngàn đóng dọc
theo biên-giới Việt-Hoa? Vụ xâm
chiếm Lào và Kampuchéa để sát-nhập vào Việt-Nam
chắc chắn đă làm cho cả thế-giới và các
bạn phải đặt câu hỏi: “Ngày xưa ḿnh giúp
họ tranh đấu cho tự-do, cho sự-nghiệp
giải-phóng quê-hương họ thoát khỏi ách
thống-trị của ngoại-bang, nay họ lại
trở thành những kẻ đi xâm-chiếm và
thống-trị người khác, làm cho dân chúng nghèo đói,
hàng trăm ngàn người vô tội bị giam cầm trong
các nhà tù mệnh-danh là Trại Cải-tạo. T́nh-trạng Việt-Nam ngày hôm nay, không hiểu
chúng ta có chút trách-nhiệm ǵ trong đó chăng?”
Tôi
không dám cao-vọng viển-vông là yêu-cầu các bạn
xét-xử lại ư-kiến của các bạn về
Việt-Nam hay bắt các bạn gánh chút trách-nhiệm nào
đó về những ǵ đang xảy ra ở
quê-hương chúng tôi, nhưng xin được viết
lại nơi đây lời của một
nữ-văn-sĩ đă viết cho Văn-bút
Thụy-Điển như sau:
“Thụy-Điển
từ trước đến nay vẫn được
chúng tôi coi như Quê-hương của Ḥa-b́nh Nhân-loại,
ngọn đuốc Tự-do cho Thế-giới, xin hăy giúp
dân-tộc chúng tôi nh́n lại được ánh sáng của
Tự-do.”
Riêng
tôi, tôi chỉ xin được làm quen cùng các bạn và xin
được cùng các bạn tiếp-tục
chiến-đấu cho một lư-tưởng chung:
Tự-do và Ḥa-b́nh cho tất cả mọi người.
Kính chào các bạn.
Trần Tam Tiệp.
[Thư đă được
dịch sang Anh-ngữ để đăng trên báo-chí ở
Thụy-Điển.]