KINH TẾ THỊ TRƯỜNG KIỂU CỘNG SẢN

Nguyễn Văn Nghi  (Trích đăng nguyệt san Con Ong Việt số 54 tháng 11 -2004)

 

 

Giới doanh thương quốc tế đến Việt-Nam làm ăn luôn luôn than phiền v́ luôn luôn gặp những trở ngại bất ngờ, làm cho chi phí tăng vọt, kế hoạch kinh doanh không thể thực hiện đúng như dự trù. Do đó họ bị lỗ lă quá nhiều. Vốn đầu tư ngoại quốc năm 1996 là 8 tỉ MK; năm 2001 chỉ c̣n hơn 2 tỉ; 3 tam cá nguyệt đầu năm nay chỉ độ 1 tỉ 800 triệu. Cứ lật tờ báo nào ra cũng thấy ít nhất có một vài vụ trở ngại và những lời than phiền.
 

     Giai cấp cộng sản cai trị Việt Nam tất nhiên cũng biết, và cũng có nhiều quan chức CS có ư muốn cải thiện t́nh h́nh. Nhưng rốt cuộc đâu vẫn hoàn đó! V́ sao vậy? V́ CS Việt Nam chủ trương cái gọi là “Kinh-Tế-Thị-Trường-Theo-Định-Hướng-Xă-Hội-Chủ-Nghĩa” là một quái thai không thể nào sinh sống b́nh thường được. Giới kinh doanh than phiền là v́ họ đâm đầu vào một trận đồ thiên hôn địa ám, mà không nghiên cứu kỹ căn bản của địa bàn hoạt động.

     Người ta biết kinh tế xă hội chủ nghĩa tức là kinh tế chỉ huy do nhà nước quản lư, tư nhân tham gia tới mức nào, hưởng lợi tới mức nào đều do nhà nước quyết định. Nói một cách khác là nhà nước không tôn trọng quyền tư hữu. Nếu họ chưa ra tay cướp đoạt trắng trợn như những vụ tịch thu nhà đất, tài sản như hồi “đánh tư sản mại bản” những thập niên 70-80, là v́ c̣n muốn để cho dân chúng đổ mồ hôi nước mắt sản xuất. Khi nào cần, họ sẽ tịch thu. Điều 15, Chương II của Hiến Pháp 1992 là đều qui định căn bản về chế độ kinh tế nói rơ ràng “sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể là nền tảng”.

Như vậy, nếu các quan chức CS Việt Nam có vẽ vời luật này luật kia để hạn chế mức phát triển tư nhân th́ đâu có ǵ đáng ngạc nhiên?

     Một bằng cớ cụ thể là kinh tế quốc doanh của CS Việt Nam vẫn tồn tại sau gần 20 năm “Đổi Mới”, mặc dù người cộng sản biết rơ chế độ đang phá sản v́ quốc doanh. Họ không thể nào làm khác, v́ điều đó được minh định nơi điều 19 Hiến Pháp:”Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lănh vực then chốt, GIỮ VAI TR̉ CHỦ ĐẠO trong nền kinh tế quốc dân. Cơ sở kinh tế quốc doanh được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sản xuất kinh doanh có kết quả.”

     Người ta c̣n nhớ giai cấp CS cai trị muốn được các cơ quan tài chính quốc tế tài trợ, cho vay vốn, đă hứa hẹn hàng chục lần là sẽ cải cách toàn diện, giải tư các xí nghiệp quốc doanh, khai phóng và thị trường trong suốt. Nhưng cho tới nay, trừ những cơ sở bị phá sản, ban quản trị tháo chạy, giao nợ nần cho nhà nước gánh chịu, c̣n phần lớn vẫn hoạt động như thường, mỗi năm nợ càng chồng chất, mà nhà nước đành. . .chịu thua!
 

     Nhưng số vốn bóp hầu nặn họng dân chúng để bù đắp cho quốâc doanh rồi cũng khánh tận. V́ vậy giai cấp cai trị muốn nhờ bên ngoài cứu viện, phải theo những điều kiện kinh tế thị trường thật, không thể làm giả măi được. Cách đây mấy năm, hăng thông tấn Reuters cho hay CS Việt Nam có dự định kiểm tra tài chính hàng trăm công ty quốc doanh. (Tuy vậy những công ty chủ yếu của nhà nước như Hàng Không, Than Đá, Bưu Điện, Viễn Thông không bị kiểm tra). CS Việt Nam phải theo các tiêu chuẩn điều hành tài chính kế toán quốc tế để được vay tiền ngoại quốc và các cơ quan tài chính quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới và Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế. CSVN đă đồng ư thanh tra tài chính các công ty quốc doanh, khuyến khích tư nhân kinh doanh, giảm thuế hàng nhập cảng, nghĩa là theo các điều kiện khai phóng thị trường cho giới doanh nhân trong và ngoài nước, hạn chế lănh vực quốc doanh đương là cái tḥng lọng cuả đảng CS đang siết cổ nền kinh tế quốc gia.

     CS Việt Nam tuyên bố việc kiểm tra có thể phải mất vài năm mới xong. Tại sao phải mất thời gian như thế? Có thể hiểu v́ chế độ XHCN đỉnh cao trí tuệ không có người đủ trí tuệ để có nhiều toán làm việc nhanh chóng hơn chăng? Nhưng điều chắc chắn là theo giới thạo tin, danh sách các cơ sở cần thanh tra phải chờ sự chấp thuận của giai cấp CS Việt Nam. Chờ cho các quan chức của đảng đồng ư th́ không có ǵ bảo đảm là lúc nào sẽ bắt đầu được. Kiểu nói có “câu tḥng” này, mọi người đă nghe quá nhiều, quá lâu! V́ vậy sau 10 năm kiểm tra, các cơ sở kinh tế quốc doanh vẫn c̣n đó!

     Giới doanh thương tư nhân trong và ngoài nước vần than phiền là các ngân hàng nhà nước phải “cung phụng” các cơ sở quốc doanh đang lụn bại, mà vẫn cứ theo nề nếp thư lại, “làm láo, mà báo cáo hay”. Tư nhân làm ăn đâu có thể rềnh rang như vậy được. Do đó giai cấp cai trị phải làm thế nào níu kéo lănh vực tư chậm lại, để cho cơ sở quốc doanh c̣n có đất sống. V́ vậy các thủ tục rườm rà, chậm chạp phải được đặt ra, vừa có cơ hội nhận lễ vật, trà nước, vừa theo đúng định hướng kinh tế thị trường xă hội chủ nghĩa!                  

     Căn bản của Xă Hội Chủ Nghĩa là độc tài toàn trị. Chỉ khi nào thế chẳng đặng đừng mới lùi một bước để tiến lên hai bước. Trong mấy năm qua, CS Việt Nam đă xử nhiều vụ án buôn lậu, tham nhũng, biển thu; nhiều quan chức CS cao cấp bị án tử h́nh, bị án tù nặng nề. Mới đây nhất là vụ Năm Cam được các quan chức cao cấp CS bao che để chia chác. Ở một nước khác th́ chỉ cần một vụ cũng đủ làm gương. Nhưng tại VNCHXHCN, th́ đó chỉ là những màn kịch.

     Nhiều năm sau cái gọi là Quốc Sách Chống Tham Nhũng, viên quan thuế tại các hải cảng, phi trường vẫn nhận hối lộ đều đều,và nhắm mắt cho qua, nếu có tiền trà nước đi trước. Nộp trà nước không phải chỉ có tư nhân, mà cả cơ sở quốc doanh cũng phải tuân hành. Tiền trà nước th́ dĩ nhiên nộp mà không có biên nhận. V́ vậy, sổ sách kết toán chi thu cuối năm hay định kỳ, làm sao mà cân bằng, nếu không man khai? Mà số tiền đâu có ít! Tính tiền “cụ Hồ” th́ phải hàng chục tỉ bạc! Cũng không phải chỉ một cấp, mà hàng chục cấp! Trong các vụ án “xử Tham Nhũng”, luật sư biện hộ đă dám nêu t́nh trạng này lên, nói đó là “cái lệ”, th́ đủ biết đó là nề nếp XHCN hiện nay. Thành ra mạng lưới chằng chịt từ trên xuống dưới. Cán bộ Hải Quan tép riu xét hàng hóa xuất nhập tại các hải cảng, phi trường, không thể nào công khai đ̣i thủ tục “đầu tiên, tiền đâu”, nếu không có cái dù che trên đầu. Vạn nhất có đổ bể, th́ bọn tép riu là những kẻ đầu tiên bị làm dê tế thần.

     Cơ sở quốc doanh nộp hối lộ th́ tiền đó là của “nhân dân làm chủ, chui vào túi nhà nước quản lư và đảng lănh đạo”, kiểu như vua nước Sở mất cung th́ người nước Sở được, thiệt đi đâu mà sợ! Nhưng tư nhân mà phải nộp “lệ phí hải quan” như thế th́ không sống nổi!

     “Việt kiều” về thăm nhà,mỗi người phải làm “thủ tục đầu tiên” 5 - 10 MK hay hơn nữa tùy theo hành lư ít hay nhiều. Mỗi năm cả trăm ngàn người về thăm quê hương, góp lại số tiền khá lớn, nhưng cũng không đến nỗi nào. Chỉ có giới doanh thương làm ăn, từ đó c̣n phải qua hàng chục cửa ải nữa, th́ lâu ngày phải chết là cái chắc. Như thế càng đúng chính sách kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa! V́ vậy, tư nhân làm ăn tại Việt Nam mà c̣n than phiền v́ luật lệ phiền toái, bất nhất, th́ thật là ...ngây thơ! Nếu không thế th́ đâu phải là xă hội chủ nghĩa đỉnh cao trí tuệ?

     Hà Nội luôn luôn kêu gọi “Việt kiều là đồng bào ruột thịt ở nước ngoài”(!) đem tài năng và phương tiện về đóng góp vào việc phát triển đất nước. Mỗi năm người Việt tị nạn gửi về cho gia đ́nh cả tỉ MK, cực chẳng đă phải đóng góp ngoại tệ cho đảng và nhà nước CS Việt Nam. Nhưng họ vẫn bị giai cấp cai trị nghi ngờ. Chung qui giữa hai bên vẫn có khoảng cách có lẽ không bao giờ vượt qua được. Chỉ v́ căn bản 2 hệ thống tư tưởng tự do và độc tài toàn trị không thể ḥa hợp được. Giai cấp cai trị muốn chúng ta về hợp tác, nhưng là hợp tác một chiều theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”. Người Việt bỏ nước ra đi là do ư thức nhân bản, không muốn làm nô lệ cho giai cấp cai trị. Ở nước ngoài một thời gian, họ lại quá quen với nếp sống tự do. Bây giờ lại bảo họ trở về vâng lệnh những con ếch ngồi đáy giếng th́ họ chịu sao nổi?!

     Theo con số chính thức của CS th́ hiện nay số vốn đầu tư của người Việt hải ngoại cũng mỗi năm lại giảm đi. Về nhân lực, chỉ có độ 500 chuyên viên Việt kiều về nước làm việc. Đó là chưa kể họ cũng chỉ làm việc tạm bợ, nếu có được cơ hội kiếm tiền. Không ai muốn từ bỏ một xă hội sung túc ổn định, đến lập nghiệp tại một xứ sở đă nghèo nàn lại đầy bất trắc. Giá thử nghèo và bất ổn v́ hoàn cảnh quốc gia lâm nguy, th́ chắc chắn người Việt không nề hà. Chỉ v́ t́nh trạng đen tối đó do giai cấp cai trị cố t́nh duy tŕ để củng cố chế độ toàn trị. Người Việt yêu nước nhưng không thểø yêu xă hội chủ nghĩa! 

     Từ khi kỹ thuật thông tin tiến bộ, người Việt tị nạn thường xuyên phổ biến tin tức, b́nh luận trên hệ thống Internet, đả kích chế độ độc đảng toàn trị, kêu gọi CS Việt Nam mở rộng tự do dân chủ, tôn trọng nhân quyền, toàn là những điều cấm kỵ. Giai cấp CS cai trị không thể không t́m mọi cách ngăn cản. V́ø vậy, dù vẫn niềm nở đón ngoại tệ và chào mừng Việt Kiều về nước đầu tư, bộ máy tuyên truyền của CS Việt Nam vẫn luôn luôn xem chúng ta là “những  thành phần xấu”, phù phiếm xa hoa, sẵn sàng làm việc phi pháp!

     Ông Nguyễn Ngọc Hà, từng giữ chức trưởng ban Việt Kiều thành phố HCM trong 18 năm trước khi về hưu, đă cố gắng biện minh là giai cấp cai trị đă thay đổi thái độ đối với Việt kiều hải ngoại, không c̣n xem là thành phần “bất hảo trốn chạy” nữa. Để đề cao tầm quan trọng của Việt Kiều, ông này xác nhận trên 2 triệu người Việt hải ngoại có số lợi tức hàng năm từ 30 đến 40 tỉ MK, với 500,000 chuyên viên tốt nghiệp đại học là nguồn nhân lực, tài lực không thể bỏ qua. Nhưng muốn thu dụng cũng không biết làm cách nào, v́ căn bản quá khác biệt giữa tự do nhân bản và độc tài đảng trị.

     Nhiều nhà báo ngoại quốc cho đó là v́ thù hận giữa hai bên quá sâu xa. Nhận định như thế để bào chữa cho chế độ CS, thật là nông cạn. Nếu c̣n chút thù hận, th́ có thể là ở lớp người thuộc chế độ Việt Nam Cộng Ḥa ngày trước. Bây giờ nhiều người cũng không c̣n muốn nhớ, muốn nhắc, muốn khơi lại vết thương từ hơn nửa thế kỷ trước đây. Phần đông lớp này cực nhọc đấu tranh, để rồi bị đầy đọa sau khi bị đồng minh bán đứng, nên sức tàn lực kiệt. Họ chỉ mong các lớp con em có đủ khả năng, điều kiện xây dựng quốc gia cho các thế hệ mai sau. Do đó, có thể nói chắc thù hận không phải là lư do chính ngăn cách người Việt hải ngoại với giai cấp CS cai trị Việt Nam.

     Thời đại này là của lớp người trẻ mới lớn, đang lên, không trực tiếp bị ảnh hưởng ân oán thời xưa. Chính lớp này mới là nguồn nhân lực, tài lực mà CS Việt Nam thèm muốn. Nhưng cũng như các thế hệ cha anh đă hi sinh thân thế và sự nghiệp, chỉ v́ muốn có tự do, họ không thể cúi đầu nghe lệnh như giai cấp CS cai trị mong muốn. Một số đă thử về nước theo tiếng gọi lương tâm, nhưng rồi họ phải thất vọng chua cay. Con số 500 chuyên viên về Việt Nam làm việc, so với cả trăm ngàn chuyên viên người Việt tại hải ngoại là hậu quả của chế độ CS Việt Nam ngoan cố, chỉ muốn đoàn kết một chiều.
 

     Nếu giới doanh thương Việt tại hải ngoại chán ngán v́ chế độ gọi là kinh tế xă hội chủ nghĩa, th́ lớp chuyên viên trí thức chán nản v́ cái bánh vẽ tự do dân chủ.

    Điều 4 Hiến Pháp 1992 của CS Việt Nam xác nhận “Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, THEO CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ và TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, là LỰC LƯỢNG LĂNH ĐẠO NHÀ NƯỚC và XĂ HỘI.”

     Với điều khoản đó, CS Việt Nam xác định cái gọi là chính trị dân chủ tập trung, th́ cũng như quyền sở hữu tập thể là căn bản của kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa. Không thể có cái này mà không có cái kia. Do đó các quyền tự do về chính trị, kinh tế, xă hội chỉ có trên giấy tờ. Tính chất lập lờ đó có thể đánh lừa được người dân hàng ngàn năm đă bị các chế độ phong kiến thực dân kềm kẹp. Làm sao đánh lừa được người Việt đă tiếp xúc với thế giới văn minh? Huống chi đối với tầng lớp tuổi trẻ xông xáo, năng động, lại c̣n khó đánh lừa gấp bội.

     Có thể nói chung là các điều kiện tâm lư, xă hội ngày nay đă chín muồi để quốc gia Việt Nam thực sự là của dân tộc Việt-Nam. Chỉ có một trở ngại không thể vượt qua là ư thức tham quyền cố vị của giai cấp cộng sản cai trị hiện nay.

     Nhiều người Việt gần đây về thăm nhà nhận định là không khí chính trị, xă hội có phần cởi mở hơn trước. Chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ chí Minh cũng chỉ c̣n trong bản hiến pháp mà chắc chắn là đại đa số dân chúng không đọc, không biết. Xă Hội thực tế hiện nay là một xă hội sa đọa, tự do phóng túng, mà giai cấp cộng sản cai trị phải dung dưỡng v́ quyền lợi kinh tế để sống c̣n.

     Giai cấp CS cai trị Việt Nam hiện nay sống nhờ nghề ngụy tạo, nghề làm bạc giả, tiêu bạc giả, như trong truyện “Les Faux Monnayeurs” của André Gide: nhà cai trị, quan ṭa, thầy giáo, nhà văn, thanh niên, dù biết là bạc giả mà vẫn phải tiêu. Không phải chỉ có tự do dân chủ giả hiệu, kinh tế thị trường giả hiệu, mà cả chủ nghĩa Mác-Lê cũng chỉ là đồ giả! Có lẽ chỉ c̣n tư tưởng cướp công, cướp quyền và tham quyền cố vị của Hồ Chí Minh lưu truyền là c̣n được thi hành triệt để.

     Chính trị dân chủ không thể là dân chủ tập trung trong tay đảng, kinh tế thị trường không thể theo định hướng xă hội chủ nghĩa, cũng tập trung trong tay đảng. Đem xào nấu xáo trộn như thế, chẳng qua là dùng lá bùa Mác-Lê, dùng thây ma họ Hồ để hù dọa, lừa bịp nhân dân, chỉ là cách che đậy, tŕ hoăn diễn biến ḥa b́nh, được ngày nào hay ngày ấy vậy.                                                             

 

Nguyễn Văn Nghi