MỘT ĐÀ LẠT “THƠ
MỘNG” - C̉N HAY MẤT?
Mai Thái Lĩnh
Vào cuối thế kỷ XIX,
khi người Pháp khám phá ra cao nguyên Lang Bian, một trong
những điểm gây ấn tượng nhất chính là
địa h́nh của vùng đất ngày nay mang tên Đà
Lạt. Bác sĩ Etienne Tardif – người tham gia một
đoàn khảo sát trong hai năm 1899-1900, đă mô tả h́nh
dáng của cao nguyên như sau: “Toàn bộ diện tích
rộng lớn ấy (…) bao gồm một chuỗi
những quả đồi tṛn kế tiếp nhau,
đồi này nằm cạnh đồi kia, đồi này
chế ngự đồi kia, đồi này th́ sườn
dốc đứng, đồi kia th́ duỗi ra và nằm
dài trên mặt đất. Những gợn sóng
ấy bị chia tách bởi những thung lũng nông hay sâu,
rộng hơn hay hẹp hơn. Con đường
nối liền Đà Lạt với Dankia len lỏi
giữa những quả đồi ấy. Tất
cả những ngọn đồi ấy được
bao phủ bởi một lớp cỏ ngắn vào mùa khô,
mọc cao vào mùa mưa, rất dày và khá cứng. Trong những thung lũng nhỏ là những
bụi cây đủ loại, những đám sậy, và trên
một vài bờ dốc là những đám thông và dẻ.[1]
Những ḍng nước chảy qua những thung lũng theo nhiều cách khác nhau. Đôi
khi người ta t́m thấy những ḍng suối chảy
siết, nhưng thường th́ chỉ là những vũng
nước tù hăm, rất sâu, bị che giấu dưới
những thảm thực vật mọc rất dày và
rất mạnh mẽ.”
Tardif
đă leo lên một trong năm
đỉnh của dăy núi Lang Bian. Từ cao độ 2.000m
nh́n xuống, ông thấy toàn bộ bề mặt của cao
nguyên là màu xanh lá của hàng trăm quả đồi (nguyên
văn: 150 quả đồi), trông giống như một
“giỏ cam” lớn (un vaste “panier
d’oranges”).[2]

Ảnh 1: Năm đỉnh
của dăy núi Lang-Bian (tranh vẽ đăng trong sách của
Tardif)
Chính là dựa trên cái nền địa h́nh
đó mà các nhà quy hoạch đô thị người Pháp
đă xây dựng nên diện mạo của Đà Lạt
trong thế kỷ XX vừa qua. Đặc
điểm của tất cả các đồ án được thiết kế trong các
thập niên 1920-1940 là sự phối hợp hài ḥa giữa
kiến trúc và thiên nhiên. Một số quả đồi cao
được dành cho những dinh thự hay các biệt
thự hạng 1, với diện tích được
cấp rất lớn nhưng chỉ được phép
xây dựng trong một phạm vi rất
nhỏ. Vd: mỗi lô đất cấp cho tư nhân có
diện tích từ 0,5 đến 2,5 hec-ta, trong đó
phần được phép xây dựng không vượt quá
1/25 diện tích và không lớn hơn 800 m2, mỗi lô
đất dùng cho lợi ích xă hội hay tập thể có
diện tích từ 1,5 đến 3,5 hec-ta, trong đó
phần được phép xây dựng không vượt quá
1/15 diện tích và không thể lớn hơn 2.000 m2; phần
diện tích c̣n lại chỉ được dùng làm công
viên, rừng, vườn hoa, vườn rau hay chăn nuôi
theo quy định. Các khu biệt thự từ hạng 2
đến hạng 5 có diện tích từ 4.000 đến
600 m2, nhưng diện tích xây dựng được quy
định cũng chỉ nằm trong khoảng từ 12
đến 25%.[3]

Ảnh 2: Hồ Xuân Hương (khoảng
1925-1930)
Mặt
khác, v́ cao độ của các ṭa nhà bị khống
chế, hầu như tất cả các công tŕnh kiến
trúc, kể cả các dinh thự lớn (như Nhà thờ
Lớn, dinh Toàn quyền tức dinh II, trường trung
học Yersin,…) đều không vượt quá ngọn cây.
Chỉ có một vài công tŕnh đặc biệt – như tháp
chuông của Nhà thờ Lớn hay tháp chuông của
trường trung học Yersin, là vượt lên trên
những đám thông (xem ảnh 3).
Cách
thức quy hoạch và thiết kế đô thị như
thế đă tạo nên dáng vẻ đặc biệt
của Đà Lạt: nhà xen lẫn giữa những cây thông;
những cụm thông – thậm chí cả rừng thông,
mọc xung quanh các dinh thự và xen lẫn vào giữa ḷng
thành phố. Chính điều đó làm nên một vẻ
đẹp thơ mộng hiếm có: nhà thấp thoáng trong
rừng, rừng tràn vào trong thành phố. Màu
xanh của thiên nhiên tràn ngập khắp nơi, làm nên
vẻ đẹp mê hồn say đắm ḷng người.
Vào thời đó, Đà Lạt có những
đồi thông rất sạch, lá thông rụng trên thảm
cỏ và người ta có thể nằm dài trên đó
để ngửi thấy mùi của thiên nhiên. Vào
thời đó, cuối tuần mỗi gia đ́nh có thể
lên Đồi Cù để cho trẻ con thả diều,
người lớn có thể thư giăn
sau những ngày lao động mệt nhọc. Mỗi
người sinh ra ở Đà Lạt hay sống lâu năm
ở Đà Lạt đều có ít nhiều kỷ niệm
gắn liền với thiên nhiên: rừng thông, hồ và thác
nước, đỉnh núi Lang Bian hay các đồi cỏ
tương tự như Đồi Cù, …

Ảnh 3: Hồ Xuân Hương nh́n từ
trường Yersin (không ảnh - chụp năm 1968)
Có
thể nói vẻ đẹp của Đà Lạt không
phải chỉ là vẻ đẹp của những công
tŕnh kiến trúc mà là sự kết hợp hài ḥa giữa hai
yếu tố: nhân tạo và tự nhiên. Thiên nhiên ở
đây không hoàn toàn hoang dă mà được chỉnh trang
phần nào bởi bàn tay và khối óc của con
người, dựa trên nguyên tắc tôn trọng, mô
phỏng tự nhiên chứ không gán ghép, áp đặt
sản phẩm nhân tạo vào thiên nhiên một cách khiên
cưỡng, biến nhân tạo thành giả tạo.
Sau khi người Pháp rời Việt
Điều
đáng buồn và đáng tiếc là từ cuối thập
niên 1970, nhất là từ thời kỳ “đổi mới
kinh tế”, cùng với áp lực của dân số, tác
động của các quy luật kinh tế thị
trường kiểu “hoang dă” cộng với một
khả năng quản lư đô thị kém cỏi, những
“tầm nh́n” thiển cận và luôn luôn thay đổi
của các cấp thẩm quyền, Đà Lạt đă
dần dần đánh mất vẻ đẹp hài ḥa
trước đây. Những người dân Đà Lạt
ngày càng cảm thấy ngột ngạt trước
cảnh ồn ào tấp nập, nhất là cảnh xe cộ chen chúc nhau một cách lộn
xộn trên những đường phố “không có đèn
xanh đèn đỏ”. Nhiều người
dân Đà Lạt định cư ở nước ngoài
trở về cảm thấy luyến tiếc vẻ
đẹp của Đà Lạt ngày xưa. Mặc dù thành phố ngày nay có nhà cửa khang trang
hơn, tiện nghi sinh hoạt hiện đại hơn
nhưng người ta không thể t́m thấy dáng vẻ
thơ mộng trước đây – vẻ đẹp mà
không thành phố đồng bằng nào có thể sánh
kịp cho dù ra sức đầu tư thật nhiều
tiền của hay công sức.
Những du khách đến Đà Lạt ngày nay
dễ cảm thấy choáng ngợp trước các ṭa nhà có
kiến trúc hiện đại nhưng sắp xếp
một cách hỗn độn, không dựa trên một ư
tưởng quy hoạch nào rơ rệt.

Ảnh 4: Khu trung tâm thương mại Đà
Lạt ngày nay (ảnh NVP)
Người
ta có cảm tưởng trong thời gian qua, các nhà quy
hoạch có trách nhiệm đối với Đà Lạt
chỉ chú ư đến từng công tŕnh kiến trúc chứ
không lưu ư đến toàn cảnh, cũng không mấy quan
tâm đến phong cảnh và môi trường thiên nhiên. Trong
khi khoa kiến trúc của thế giới đă phát
triển thêm nhiều chuyên ngành như kiến trúc phong
cảnh (landscape architecture), thiết kế đô thị
(urban design), quy hoạch đô thị (urban planning), v,v… th́ dường như các “chuyên gia” quy
hoạch đô thị Đà Lạt chỉ dừng lại
ở việc thiết kế từng ṭa nhà, từng dinh
thự, chỉ chú ư đến tiểu tiết mà quên đi
cái toàn thể.

Ảnh 5: Khu trung tâm thương mại Đà
Lạt 1968 (không ảnh)
Một thành phố đẹp cần có sự
hài ḥa, đ̣i hỏi khéo bố trí, sắp xếp các công
tŕnh kiến trúc. Một thành phố
trên cao nguyên lại cần có sự hài ḥa giữa kiến
trúc và phong cảnh. V́ vậy, có thể nói: một
thành phố đẹp không phải chỉ là những ṭa
nhà đẹp hay những đường phố
đẹp. Nếu không biết cách quy
hoạch một cách hợp lư, tổng số của các ṭa
nhà đẹp và các đường phố đẹp có
thể làm nên một thành phố xấu xí.
Tin
tức báo chí gần đây cho biết các nhà lănh đạo
địa phương đang bật đèn xanh cho phép xây
dựng những building (ngày nay thường gọi là “cao
ốc”) ngay tại khu trung tâm, trước mắt là hai cao
ốc có chiều cao 45m và 49m. Nhưng trong khi ban hành
những quyết định táo bạo đó, vẫn
chưa có ai xác định được những nguyên
tắc căn bản: nơi nào được phép xây cao
ốc và chiều cao cho phép là bao nhiêu? Bất cứ ai có
chút kiến thức về Đà Lạt đều thấy
rơ nơi đây không phải là một thành phố
đồng bằng, cho nên khi nói cao nguyên Lang-Bian có cao
độ trung b́nh là 1.500m th́ điều đó không có
nghĩa là tất cả các địa điểm ở
vùng này đều cao bằng nhau. Do địa h́nh cao
thấp khác nhau, một ṭa nhà 49m xây phía sau chợ Đà
Lạt (điểm A trong ảnh 6), nghĩa là trong
một thung lũng có cao độ khoảng 1480m, sẽ
đạt đến độ cao 1529m. Chiều cao này
trong thực tế đă vượt hơn ngọn
đồi Dinh Thị trưởng cũ ở phía bắc
(điểm C) v́ cao độ ở đây là 1525,3m. Trong khi đó, một cao ốc 45m
đặt tại Khu Ḥa B́nh (điểm B, có cao độ
1494m) sẽ đạt đến độ cao 1539m,
nghĩa là cao hơn 10m so với ṭa cao ốc thứ
nhất, cao hơn 13,7m so với ngọn đồi Dinh
Thị trưởng cũ, thậm chí c̣n cao hơn cả
ngọn đồi Dinh III (1535,8m). Chưa hết:
người ta c̣n đang lăm le xây một cao ốc ngay
trên đỉnh đồi phía sau lưng trường
Đoàn Thị Điểm – có cao độ 1504,3m.[4]
Như vậy, sự xuất hiện các ṭa cao ốc
sẽ làm cho “diện mạo Đà Lạt” thay đổi
hoàn toàn chứ không phải chỉ là “thay áo mới” như
lời phát biểu của một quan chức của
tỉnh Lâm Đồng với phóng viên báo chí vào tháng 9
năm 2010.[5]

Ảnh 6: Khu Ḥa B́nh và Chợ Đà Lạt 1968
Việc
cho phép xây dựng cao ốc một cách tùy tiện sẽ
tạo ra nguy cơ phá hỏng toàn bộ các nguyên tắc bao
hàm trong các đồ án quy hoạch mà người Pháp đă
dày công xây dựng từ năm 1923 cho đến
đầu thập niên 1940. Chính v́ vậy mà trong dư
luận đang nảy sinh mối hoài nghi về
động cơ cho phép xây dựng các ṭa cao ốc:
phải chăng cái gọi là “quỹ đất vàng” đă
và đang hấp dẫn các nhà đầu tư nhưng
cũng đồng thời gợi lên ḷng tham nơi
những người có thẩm quyền phê duyệt,
cấp phép trong ngành xây dựng? Phải chăng quy luật
thị trường “hoang dă” đă và đang làm phát sinh
nguyên tắc “đồng tiền mua được
chiều cao” bất chấp các quy định về quy
hoạch - kiến trúc, về môi trường thiên nhiên?
Nếu chỉ xét thuần túy về mặt kinh
tế, nhà đầu tư mua một mảnh đất
luôn luôn có xu hướng muốn xây cao ốc. Do
chỗ giá đất cao hơn nhiều so với vốn
đầu tư để xây dựng công tŕnh, cho nên ṭa nhà
càng cao th́ diện tích sử dụng càng lớn, khả
năng sinh lợi càng gia tăng. Trong trường hợp
đó, “nhà tư bản” sẵn sàng bỏ tiền ra
để mua chuộc những người có thẩm
quyền nhằm có được chiều cao như ư
muốn, coi như tính luôn trong số vốn đầu tư. Trong bộ Tư bản, Marx có
trích dẫn một câu văn của một nhà hoạt
động công đoàn người Anh tên là T.J. Dunning:
“Với một lợi nhuận thích đáng th́ tư
bản trở nên can đảm. Được bảo
đảm 10% lợi nhuận th́ người ta có thể
dùng tư bản vào đâu cũng được,
được 20% th́ nó hoạt bát hẳn lên,
được 50% th́ nó trở nên thật sự táo
bạo, được 100% th́ nó chà đạp lên mọi
luật lệ của loài người, được 300%
th́ không c̣n tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ
bị treo cổ”.[6]
Nguyên lư này xem ra áp dụng đúng cả trong trường
hợp của nền kinh tế nước ta hiện nay.
Điều
mà lư thuyết của Marx không tiên liệu là: nhà tư
bản chỉ sợ “bị treo cổ” trong hoàn cảnh
của một quốc gia “tư bản phát triển”,
nơi mà nền kinh tế thị trường bị
quản lư, kiểm soát chặt chẽ, nơi mà quyền
lực chính trị phải áp dụng nguyên tắc “tam
quyền phân lập”, nơi mà báo chí tự do có thể phanh
phui, phơi bày bất cứ chuyện ǵ. C̣n trong hoàn
cảnh của Việt Nam, khi mà quyền lực chính
trị dựa trên nguyên tắc “tập trung dân chủ”,
nền kinh tế thị trường lại
được nhét vào cái khung của “chủ nghĩa xă
hội” th́ pháp luật hoàn toàn nằm trong tay của
những người cầm quyền, mọi quy
định pháp lư đều có thể bị uốn
nắn cho phù hợp với túi tiền của nhà
đầu tư và ư chí của các nhà lănh đạo.
Cộng với một nền báo chí chỉ chăm chăm
“chạy theo lề phải”, quanh năm suốt tháng
chỉ biết ngóng nh́n chiếc gậy chỉ huy th́
một khi nhà đầu tư mua được chiều
cao của công tŕnh, họ hoàn toàn có thể yên chí chạy
theo lợi nhuận, không sợ bị treo cổ, càng không
lo ngại báo chí gây phiền nhiễu.
*
Trong những ngày cuối năm, so sánh những
tấm ảnh toàn cảnh chụp Đà Lạt ngày xưa
với những tấm ảnh chụp hiện nay, người
viết không thể không cảm thấy xót xa. Có
lẽ đă đến lúc những người yêu Đà
Lạt sẽ phải chào vĩnh biệt “thành phố
mộng mơ” mà họ đă từng biết và đă
từng dệt nên bao nhiêu kỷ niệm. Một Đà
Lạt như đă từng được miêu tả trong
thơ, trong nhạc, trong văn chương, sẽ vĩnh
viễn đi vào dĩ văng…
Một
Đà Lạt khác sẽ ra đời: đó là một Đà
Lạt “hiện đại” được h́nh thành từ
những bộ óc “đi tắt đón đầu”, “dám
nghĩ dám làm” (kể cả nghĩ sai, nghĩ bậy và làm
ẩu, làm dối), được thúc đẩy bởi
khẩu hiệu “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và
được điều khiển từ xa bởi
những đ̣n bẩy của của kinh tế thị
trường nhưng lại bị che đậy
dưới cái vỏ đạo đức giả của
chiêu bài “định hướng XHCN”. Những đ̣n
bẩy đó, cộng với một quyền lực chính
trị vô biên (không ai có thể kiểm soát, cũng không ai dám
phê b́nh) sẽ đem lại cho Đà Lạt một
diện mạo mới – đẹp như thế nào th́
chưa ai có thể nh́n thấy, nhưng những
đường nét xấu xí th́ ngày càng bộc lộ, không
một ai có thể che đậy.

Ảnh 7: Toàn cảnh Đà Lạt năm 1966
(ảnh Trần Văn Châu)
Mai
đây, cho dù diện mạo Đà Lạt có hiện
đại hơn, thành phố có tráng lệ hơn do
những ṭa cao ốc nguy nga mọc lên như nấm sau
cơn mưa rào, điều mà ai ai cũng có thể dễ
dàng nhận thấy là: thiên nhiên sẽ ngày càng biến
mất để nhường chỗ cho những khối
bê-tông khổng lồ chen chúc nhau giữa ḷng một thành
phố từng làm say đắm ḷng người do
những rặng thông xen vào giữa ḷng phố thị, do
những ngôi biệt thự thấp thoáng giữa những
tán lá xanh, do những dinh thự ẩn hiện trên
đỉnh những ngọn đồi…
Nếu chức năng chủ yếu của
Đà Lạt là một thành phố du lịch – nghỉ
dưỡng, th́ điều đầu tiên cần phải
bảo tồn, nâng cấp chính là môi trường thiên nhiên
và các thắng cảnh. Trong vài thập niên qua,
Đà Lạt sở dĩ c̣n hấp dẫn được
du khách là nhờ đă “ăn bám” vào thanh
danh của ngày xưa, nhờ vào những h́nh tượng
mà các văn nghệ sĩ lớn của Việt
Ngày nay,
giữa ḷng một thành phố Đà Lạt vàng thau lẫn
lộn, nơi mà những kẻ lớn tiếng tự
xưng là “người yêu Đà Lạt” lại có thể
chính là kẻ đang từng ngày từng giờ phá hoại
vẻ đẹp của Đà Lạt, những
người thật sự yêu Đà Lạt đang có nguy
cơ trở thành những con người cô đơn ngay
trên mảnh đất quê hương của ḿnh…
Dù sao th́
Đà Lạt không phải chỉ là “tài sản” của riêng
người Đà Lạt, lại càng không phải là tài
sản riêng của một số vị có chức có
quyền. Nếu chỉ nói một cách khiêm
tốn, không phô trương, Đà Lạt ít nhất
cũng là một “tài sản quốc gia” cần phải
bảo tồn, trân trọng. Không lẽ tất cả
những người dân Việt trong cả nước, và
cả những người Việt hiện đang cư
trú ở khắp nơi trên toàn thế giới, lại
chịu im lặng, bó tay để
“Đà Lạt thơ mộng” chết dần chết ṃn
như thế sao?
Đà
Lạt, những ngày tất niên âm lịch năm Canh
Dần,
26.1.2010
Mai Thái Lĩnh
[1] Nguyên văn: chênes (cây
sồi). Theo bộ sách Cây cỏ Việt
[2] Etienne
Tardif, La mission du Lang-Bian 1899-1900, Ogeret & Martin, Vienne,
1902, pp. 35-36.
[3] Commune de
Dalat – Voirie municipale, Plan d’aménagement et d’extension de Dalat –
Programme des servitudes, 27 Avril 1943 (dactylographié)
[4] Cao
độ của một số địa điểm trên
đây dựa trên bản đồ Đà Lạt tỷ
lệ 1/10.000 do Nha Địa dư Quốc gia phát hành
năm 1960.
[5] Khắc
Lịch, Tính chuyện “thay áo” cho Đà Lạt, Bee.net
28/09/2010:
http://bee.net.vn/channel/1983/201009/Tinh-chuyen-thay-ao-cho-da-Lat-1769993/
[6] Các Mác, Tư
bản, tập I, quyển I, phần 2, Chương XXIV,
Nxb Tiến bộ - Mat-xcơ-va, Nxb Sự Thật – Hà
nội, 1984, tr. 315, chú thích số 250.

