Nhảy Dù và
Cổ Thành Đinh Công Tráng
Kính
gởi Niên Trưởng Giao Chỉ (
Nhân đọc
được bài “Trong đêm đen chợt thấy ánh
mặt trời” của Niên trưởng, tôi đă
quyết định cầm lại cây bút. Nặng nề,
đắn đo, suy nghĩ suốt mấy đêm liền
……..Sau cùng tôi thấy ḿnh có trách nhiệm phải nói lên
một sự thật của lịch sử và nhất là
vinh danh những chiến hữu, những đệ tử
thâm t́nh đă vĩnh viễn nằm xuống bên bờ
Cổ thành Đinh Công Tráng (Quảng Trị) vào mùa Hè
đỏ lửa 1972.
Ngắn gọn
để tự giới thiệu với Niên trưởng,
tôi là cựu Thiếu Tá Trương Đăng Sỹ,
xuất than Khóa 21 Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt
Nam Dalat, Đại Đội trưởng Đại
Đội 51 Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, được
Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu, Tiểu Đoàn Trưởng
Tiểu Đoàn 5 trao trọn trách nhiệm tổng chỉ
huy điều động lực lượng tiền
phương tiến chiếm Cổ thành Quảng Trị
vào năm 1972. Hiện nay, tôi đang sinh
sống tại
Với tư cách và danh
dự của một Sĩ quan xuất thân từ
trường Vơ Bị, tôi dám quả quyết với các niên
trưởng rằng tôi sẽ nói hoàn toàn sự thật sau
đây v́ nó có tính cách lịch sử, mà theo tôi lịch
sử phải là sự thật, đó là chân lư, đừng
bẻ cong ng̣i bút, đừng che dấu và đừng
đánh bóng cá nhân, nhất là những người không
trực tiếp tham dự cuộc chiến.
Tôi được tham
dự tất cả những trận đánh lừng danh
trong quân sử của Việt Nam Cộng Ḥa, từ năm
1966 măi đến ngày mất nước 30/4/1975. Với
tư cách là một sĩ quan thuần túy tác chiến, đi
bộ, cầm bản đồ, địa bàn, tay bấm
Combiné từ Campuchia qua Hạ Lào, An Lộc, Quảng
Trị, có thể nói chưa bao giờ thất bại,
nhưng chua cay và gay cấn nhất là Cổ thành Đinh
Công Tráng (Quảng Trị). Sau đây là
diễn tiến trận đánh.
Tôi
đồng ư với Niên trưởng ở điểm là
hôm nay làm thế nào chúng ta phải có bản đồ
trận liệt Quảng Trị, cũng như phóng
đồ Hành quân tái chiếm Quảng Trị. Nếu
không chúng ta cũng c̣n lẫn quẩn trong những nét
đại cương.
Nói riêng về trận
tái chiếm Quảng Trị, tôi biết có rất nhiều
người yêu cầu cũng như mong muốn tôi
phải lên tiếng, nhất là bên ban quân sữ Mũ
Đỏ. Nhưng tôi vẫn im lặng, im lặng gậm
nhắm tất cả những đau thương chua chát. Im lặng để tôn trọng những
người viết trước – những vị này
đều không trực tiếp tham dự trận đánh.
Từ Phan Nhật
Tôi rất mong lá thư
này đến trước khi cuốn phim tài liệu về
trận đánh mà quư Niên trưởng sắp thực
hiện, mục đích là vinh danh các chiến hữu đă
nằm xuống bên bờ Cổ thành, vinh danh Binh chủng
Nhảy Dù đă đổ quá nhiều xương máu cho
một mục tiêu mà quả là cục xương khó
nuốt, nhưng lại ảnh hưởng quá lớn trên
trường chính trị. Ước mong quư
Niên trưởng tôn trọng máu xương cua các chiến
hữu và máu của cả tôi đă đổ quá nhiều
cho cuộc hành quân này. Tôi có tật bẩm sinh trong
đời binh nghiệp là không tranh giành chiến công v́ quan
niệm tất cả là của chung,
của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, cũng như
không đổ lỗI cho bất cứ một thất
bại nào.
Trở lại diễn
tiến cuộc hành quân, ngày N có lẽ là ngày 28/6/1972, sau hai
tháng tử thủ An Lộc, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù
được không vận ra phi trường Phú Bài Huế
để nhập cuộc. Toàn bộ Sư Đoàn tiến
theo Quốc lộ 1 qua Hải Lăng,
Triệu Phong, vượt qua Đại lộ kinh hoàng
tiến về hướng La vang thượng.
Qua bao nhiêu ngày tiến
quân, dưới sự yểm trợ tối đa của
phi pháo và đầu đội mưa pháo của
địch quân, Đại Đội tôi cũng vào được
Nhà Thờ La vang và tạm ngũ tại
nghĩa trang một đêm để sáng hôm sau tiến
chiếm mục tiêu làng Như Lệ.

( Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù vào Thánh
Địa La Vang)
Nhưng sáng hôm sau, tôi
được lệnh bàn giao khu vực La vang lại cho
Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Thiếu tá Lê Văn
Mễ băng qua Quốc lộ 1 và tiến về hướng
làng Tŕ Bưu để từ đó làm bàn đạp
tiến thẳng lên Cổ thành Đinh Công Tráng.
Tôi nhớ rơ đêm hôm
đó, trong tiếng pháo ầm vang của ta và địch,
Trung tá Nguyễn Chí Hiếu cho họp Ban Tham mưu và các
Đại đội trưởng để ban lệnh
hành quân mới. Bên cạnh bản đồ và sa bàn Cổ
thành Đinh Công Tráng, Trung tá Hiếu cho biết Tiểu
Đoàn 5 được vinh dự nhận nhiệm vụ
bằng mọi giá phải chiếm lại cho bằng
được Cổ thành. Sau khi phân tích t́nh h́nh
địch và bạn, phân chia nhiệm vụ, Trung tá
Hiếu trịnh trọng hai tay cầm
lá Quốc Kỳ trao cho tôi và ông nói:
- “Đây
là tất cả vinh dự của Quân lực Việt Nam
Cộng Ḥa và của Binh chủng Nhảy Dù, tôi đặt
tất cả tin tưởng vào anh. Cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, tất
cả tiền quân đặt dưới quyền
điều động của anh.”
Tôi đưa hai tay nhận lá Quốc Kỳ nửa hănh
diện, nửa lo âu. Nói có vong linh Trung tá Hiếu: ông đă
đặt tôi vào cảnh c̣n hơn Thái tử Đan,
tiễn Kinh Kha qua sông Dịch.
Trong phiên họp, ông c̣n
đề nghị dùng dây để leo
lên thành, đánh như lối La Mă ngày xưa. Sau đó ông
trao cho tôi một cái máy h́nh chữ nhật khoảng 2
tấc x 4 tấc của Mỹ, ông căn dặn trong
trường hợp tuyệt vọng, bấm vào nút
đỏ ngay lập tức, Không lực Hoa kỳ và
hảI pháo từ Đệ thất hạm độ
sẽ hủy diệt mục tiêu, kể cả quân bạn.
Cho đến hôm nay tôi vẫn chưa hiểu
đó là chiếc máy ǵ? Sau này, có lúc gần như
tuyệt vọng tôi định đem ra xử dụng,
nhưng nghĩ c̣n đến bao nhiêu sinh mạng
dưới tay, sinh mạng của con
người đó! Ngần ngại rồi
lại thôi. Đêm hôm đó, không thể
nào chợp mắt. Tôi chưa bao giờ
từ chối bất cứ nhiệm vụ nào, nhưng
linh cảm phải hy sinh rất nhiều xương máu “Nhất
tướng công thành vạn cốt khô”.
Nỗ
lực chính đi đầu là hai đại đội 51
và 52. Sau hai ngày di chuyển ngày đêm, vượt qua
một con sông nhỏ, trước mặt là cánh
đồng trống, bên kia cánh
đồng là làng Tŕ Bưu. Tôi biết trong làng địch
quân bố trí chờ sẵn…lực lượng không
biết bao nhiêu nhưng có cả 12 ly 8, cối 61 và 82 ly.
Đặt ống ḍm
nh́n mục tiêu làng Tŕ Bưu, tôi gọi Hồ Tường
đến ra lệnh cho một trung đội thật
mỏng chiếm nghĩa trang giữa cánh đồng làm bàn
đạp. Điều chỉnh xong phi tuần A37 xuống
đúng mục tiêu, xin thêm 20 tràng (T.O.T = Time on Target). Sau đó là mười tràng đạn khói bao trùm
làng Tŕ Bưu. Liền sau đó, xử dụng 3 trung
đội hàng ngang xung phong cộng với 2 trung
đội sẵn sàng tiếp ứng. Binh
sĩ vừa bắn vừa hô xung phong, đẹp hơn
ciné chiến tranh.
Chịu
không nổi hỏa lực khủng khiếp của phi pháo
ta, địch tháo chạy bỏ lại chiến
trường 6 xác chết mặc đồ khaki
-“Tŕnh 501, tịch thu 1
khẩu 12 ly 8, 1 cối 82 ly và một số AK47 và B40 ……”
- “Tập
trung lại tại chổ, tất cả bung rộng
lục soát, cẩn thận tối đa.”
- “Nhận
rơ 501, 5 trên 5.”
Từ làng
Tŕ Bưu, về hướng Tây Bắc, mục tiêu kế
tiếp là Nhà Thờ Tŕ Bưu. Tôi và Hồ
Tường song song bung đội h́nh từng bước
tiến lên, nhường làng Tŕ Bưu lại cho Bộ
Chỉ huy Tiểu đoàn. Đoạn đường
từ đây đến Nhà Thờ Tŕ Bưu khoảng vài
trăm thước cũng không phải dễ đi …
Tôi đă xử
dụng tất cả hỏa lực yểm trợ: 18
khẩu 105 ly, cơ hữu Nhảy Dù, 4 khẩu 155 ly, 2
khẩu 175 ly của Quân đoàn 1…
Ngày nào
cũng có ít nhất hai phi tuần oanh tạc. Ban
đêm, thỉnh thoảng c̣n được hải pháo
từ Đệ nhất hạm đội bắn yểm
trợ. Nếu cần thiết, c̣n
được 18 khẩu 105 ly của Thủy quân Lục
chiến tăng cường. Ngày nào ít
lắm cũng có một hay hai lần bắn “T.O.T”.
Có lúc chúng
tôi phải tiến quân trong mưa bụi của pháo binh,
mục đích không cho địch quân ngóc đầu
khỏi hố. Tôi áp dụng chiến
thuật từng bước nhảy vọt. Hồ
Tường tiến tới từ 50 đến 100m th́
dừng lại bố trí, 51 tiến lên qua mặt 52,
rồi lại tiến lên 50m đến 100m dừng lại
hầm hố bố trí, cứ thế tiến dần …
Nhưng
sức kháng cự của địch quân c̣n quá mạnh,
nhất là bên cánh phải c̣n khu làng nhỏ sát bờ sông
Thạch Hăn, địch bắn qua quá rát. Ban đêm
đôi lúc chúng tôi c̣n nghe cả tiếng chiến xa
địch.
Tôi
quyết định xin thêm quân tăng viện và
Đại đội 2 trinh sát của Đại úy
Trương Văn Út (Út Bạch Lan) nhập trận. Tôi tung Út Bạch Lan qua bảo vệ
sườn phải cùng song song tiến về hướng
Cổ thành. Út Bạch Lan xông xáo, lanh lợi,
gan ĺ ầm vang trong máy, nhất quyết dứt
điểm mục tiêu.
Sau 7, 8 ngày quần
thảo với địch quân, di chuyển ngày không
được chúng tôi tiến ban đêm… và một sự
t́nh cờ ngẫu nhiên, một tiểu đội đi
lạc vào Nhà Thờ Tŕ Bưu. Nghe báo cáo, tôi bèn ra lệnh
chiếm giữ và tung thêm quân vào lục soát, một
cảnh tượng hải hùng thương tâm hiện ra
trước mắt – dân chúng kẹt dưới hầm
của Nhà Thờ hơn 100 người……già trẻ, bé
lớn vừa đói khát vừa thương tật…….. Hầm trú ẩn nhà Thờ dày và kiên cố.
Gặp chúng tôi, họ mừng vui ra mặt, một
giọng Huế thân thương vang lên:
- “Ḿnh
được lính “con Ó” cứu rồi các ôn ơi!”
Tôi ra lệnh cho y tá
săn sóc thuốc men và phát thức ăn tạm cho
đồng bào, chỉ hướng cho họ đi về
phía sau, gọi máy báo cáo cho TĐ tiếp nhận và xin thêm
quân lên giữ nhà Thờ v́ sợ địch cắt
đứt đường tiếp tế tải
thương. Đại đội 54 của
Trung úy Nguyễn Đ́nh Dương lên chiếm giữ.
Dương sau này được lệnh
thuyên chuyển về Phủ Phó Tổng thống. Ban
Chỉ huy c̣n tăng cường thêm 1 đại
đội của TĐ11 Nhảy Dù (Song kiếm trấn
ải). Đại đội trưởng là
Trung úy Đinh Viết Trinh. Lúc mới ra
trường, Trinh về TĐ5 và làm trung đội
trưởng cho tôi. Nghe tiếng Trinh
trong máy, tôi thấy Trinh tiến bộ, gan ĺ, xông xáo hơn
trước nhiều. Trinh tiến lên bên
cánh trái chiếm nghĩa trang, từng ngôi mộ…..tiến
về hướng Cổ thành. Bên trái là TĐ6
Nhảy Dù đang chiếm giữ căn cứ Compound
của Mỹ để lại. Nhà ga
Quảng Trị đă có Mê linh Thiếu Tá Lê Văn Mễ
TĐ11 trấn giữ.
Có lần
Hồ Tường đề nghị, nếu trường
hợp bị địch dùng chiến xa và biển
người cắt đứt đường tiếp
viện giữa tiền quân và Bộ Chỉ Huy, chúng tôi
sẽ có kế hoạch âm thầm di chuyển ban đêm
về hướng TĐ6 Nhảy Dù. Dĩ nhiên
tôi không chấp thuận lư do “Lá Quốc Kỳ chưa
được tung bay trên Cổ thành”.
Hằng
giờ, hằng ngày và hằng đêm, Thiếu Tá Lê Hữu
Chí B3 và 101(Trung tá Nguyễn Chí Hiếu) gọi máy hỏi
thăm và hối thúc liên tục. Tôi như
ngồi trên đống lửa, thuốc lá và café đen liên
tục…
Sức
kháng cự của địch quân quá mạnh, thiệt
hại nặng nhất cho tiền quân là đại pháo 130
ly từ dăy Trường sơn pháo xuống. Bên kia sông Thạch Hăn hỏa lực của
địch bắn qua quá rát. Đại đội 2 trinh
sát của Út Bạch Lan phải xử dụng sở
trường dùng các toán trinh sát nhỏ chiếm từng ngôi
nhà, lũy tre để tiến lên ngày và đêm…
Tôi và
Hồ Tường cho tiền quân nhổ chốt bằng
lựu đạn, đánh cận chiến và liên tục
xử dụng phi pháo tối đa. Cho dù
phải sinh Bắc tử Nam, những tên lính điên
cuồng Cộng sản tuyệt đối không thể nào
làm khác hơn v́ chân đă bị xiềng chặt vào các
ổ pḥng không, đại liên hoặc súng cối. Mỗi
đêm trôi qua đều hải hùng, nặng mùi tử khí.
Ban ngày khói lửa ngập trời. Cứ thế chúng tôi
từ từ tiến bước….khoảng cách từ
đây đến Cổ thành từ từ rút ngắn….
Sự thiệt hại
càng ngày càng nhiều, những cán bộ ṇng cốt lần
lượt bị thương hoặc tử thương
phải rời trận địa. Bao nhiêu tiền sát viên
đưa lên đều lần lượt bị
thương và tử thương, v́ họ quá hăng lên
ngay tuyến đầu để quan sát điều
chỉnh, có đôi lúc tôi phải kiêm luôn tiền sát viên,
nhưng muốn được yểm trợ phải
xưng danh hiệu, các pháo đội trưởng Dù
đều quen biết nên không trở ngại nhiều.
Vào một đêm
tối trời, bên ngoài trời mưa lất phất, Út
Bạch Lan gọi tôi qua tần số đặc biệt
để báo cáo cho biết các toán trinh sát gần như tê
liệt, đệ tử ruột thịt bị loại
khỏi ṿng chiến quá nhiều, thiệt hại đáng
kể. Trong lúc t́nh h́nh địch mạnh lắm, đại
pháo 130 ly, hỏa tiển 122 ly, pḥng không 37 ly, hỏa
tiển SA7, đại liên 12 ly 8, cối đủ loại
tạo thành một bức tường hỏa lực dày
đặc rất khó tiến quân. Bên kia
sông Thạch Hăn, địch điều quân như chỗ
không người. Út Bạch Lan lưu ư tôi nên thận
trọng, báo cáo t́nh h́nh, xin thêm tăng viện. Nếu sườn bên phải bỏ trống,
sẽ là một trở ngại và là nỗi lo âu to lớn
cho tôi.
Sáng hôm sau, tôi gọi
máy đề nghị với 101 cho Đại đội 2
trinh sát lùi về sau giữ điểm tiếp tế
tải thương và xin thêm quân tăng viện. Trong cùng một ngày, 2 Đại đội
của Liên đoàn 81 Biệt kích dù được phái lên
tăng cường và nhập trận. Có lẽ
Bộ Chỉ Huy hành quân quan niệm Biệt kích chuyên
đánh từng toán nhỏ, sở trường chiến
đấu trong thành phố và mới nổi danh ở
chiến trường An Lộc. Nhưng thật sự
với tôi có một trở ngại lớn trong vấn
đề phốI hợp và điều động chỉ
huy. V́ hỏa lực của địch quá
mạnh, nên 2 Đại đội 81 Biệt kích dù
tiến hơi cẩn thận đôi lúc bị cầm chân
tại chổ.
Trong lúc Út Bạch Lan
điều động Đại đội 2 Trinh sát lùi
về sau th́ bị chốt của địch khai hỏa
dữ dội ngăn chặn, địch đă cắt
đứt đường tiếp tế tải
thương. Tôi nói với Út với bất
cứ giá nào cũng nhổ cho bằng được các
ổ kháng cự này. Tôi xin phi tuần Skyraider mang bom
xăng đặc Napale và quyết định đánh sát
cận rất nguy hiểm. Hai đầu là
quân bạn, địch cắt ở giữa, phải làm
thế nào đây?
Tôi hỏi
Út dám chấp nhận hy sinh không? Út gật đầu, và chúng tôi quyết
định xử dụng bom Napale. Sau khi L19 bắn
khói điều chỉnh, chiếc khu trục thứ
nhất lao xuống thả 2 quả bom
xăng đặc. Cả một vùng biển lửa
bốc cháy……sức nóng tàn khốc tỏa rất gần
quân bạn, tôi nghe một vài binh sĩ la lên:
- “Check fire
đi 501, nguy hiểm lắm!”
Tôi lạnh lùng bấm
máy gọi L19:
- “Good,
tiếp tục!”
Chiếc thứ hai lao xuống, 2 quả bom nữa rời cánh
phi cơ, cụm lửa cao lan rộng hơn tiêu hủy
cả một vùng rộng lớn…………..
Tôi gọi Út:
- “Vịt
con (VC) bị nướng sống hết rồi, vào
lượm súng đi Út Bạch Lan!”
- “Nhận
rơ 501, tôi sẽ làm cỏ sạch bọn chúng.”
Út Bạch
Lan cho xung phong và thanh toán gọn các ổ kháng cự. Từ đó, con đường tiếp vận
tải thương mới được khai thông.
Trở
lại với tiền quân, tôi và Hồ Tường mở
bản đồ, t́m kế hoạch tiếp tục
tiến quân. Con đường từ đây đến
Cổ thành c̣n hơn 300m mà sao dài ra thăm thẳm……..và
lắm gian nguy. Tất cả phi pháo đa phần
đều dồn hết vào Cổ thành, nhưng tôi lại
không muốn như thế, tôi lại muốn dồn
hỏa lực lên phía Bắc sông Thạch Hản
đến phi trường Ái Tử ra tận Đông Hà –
phía Tây dăy Trường sơn, phải làm sao khóa họng các
khẩu đại pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly của
địch.
Cần nói rơ trong
thời điểm này, không lực Mỹ và B52 không
đồng ư oanh tạc trong thành phố Quảng Trị.
Quảng Trị ch́m trong biển lửa, điêu tàn và
thảm khốc. Gần một tháng trời quần
thảo với địch quân với hơn 2 Sư
đoàn chính quy Bắc Việt: Sư đoàn 304 và 324 (?) Sự
thiệt hại của đôi bên đă lên đến con
số khá cao, nếu được tính chính xác.
Vào một đêm
đang ngồi trong hầm, bấm đèn pin xem bản
đồ, suy nghĩ phương thức tiến quân th́
hiệu thính viên đưa máy cho tôi và nói 101 muốn
gặp:
- “101,
đây 501 tôi nghe!”
- “Báo cho
anh biết, đích thân Tông tông ra lệnh cho Quân Đoàn 1 và
Đại bàng 1 (Trung tướng Ngô Quang Trưởng) ra
lệnh cho chúng ta phải thanh toán mục tiêu Cổ thành
bằng mọi giá, càng sớm càng tốt, nhận rơ
trả lời.”
- “Nhận
rơ 101, tôi sẽ cố gắng!”
Thẫn thờ buông
máy, suy nghĩ mông lung…….
Những Sĩ quan
chủ lực của tôi lần lượt bị
thương rời vùng, từ Trung úy Nguyễn Tiến
Việt, Thiếu úy Nguyễn Văn Hội, Chuẩn úy
Sanh…….đều bị thương. Bất
đắc dĩ phải cho hạ sĩ quan cao cấp lên
làm Trung đội trưởng, có người không
biết đọc bản đồ, nhưng tác chiến
rất ĺ lợm và kinh nghiệm.
V́ sức
kháng cự của địch quân c̣n quá mạnh,
đại quân bị khựng lại. Tôi
quyết định cho thành lập toán cảm tử,
lợi dụng đêm tối tiến lên chiếm thành,
hầm hố vững chắc, cố gắng cầm
cự để tờ mờ sáng hôm sau, tôi dẫn
đại quân lên chi viện và dứt điểm mục
tiêu Cổ thành. Toán cảm tử này hoàn toàn
t́nh nguyện. Đó là kế hoạch nhưng
sự thi hành hơi khác.
Số t́nh
nguyện lên khá cao, đă hơn 10 binh sĩ. Nhiều
quá dễ bị lộ! Tôi quyết
định chọn ra 8 người. Hạ sĩ
nhất Trần Tâm làm trưởng toán, Hồ Khang sinh
trưởng lớn lên đi học tại Quảng
Trị nên làm tiền sát dẫn đường, Hậu
mang máy, Hồ Con, Lê Văn Lịch… Tôi không
nhớ hết tên 8 người.
Vào một đêm
tối trời, tôi tập hợp tiểu đội t́nh
nguyện này vào một căn hầm của dân để
lại, căn dặn cẩn thận và nói rơ mục đích
chuyến đi nguy hiểm này. Chúng tôi chia xẻ với
nhau từng điếu thuốc quân tiếp vụ, sau cùng
tôi lên tiếng:
- “Các anh
nên suy nghĩ kỹ lại đi. Không một ai có thể bắt buộc các anh,
đây là vinh dự của Tổ quốc và Quân đội
dành cho các anh. Tôi chỉ hứa nếu
nhiệm vụ hoàn thành, tôi sẽ kư cho các anh 15 ngày phép
về
Hậu mếu máo nói
với tôi:
- “Chúng tôi không dám
nghĩ đến những vấn đề quá cao xa, chúng
tôi t́nh nguyện ra đi v́ quá thương Đích thân,
mấy ngày qua Đích thân không ăn
một miếng cơm, chỉ uống nước, café và
thuốc lá.”
Tôi vỗ vai từng
người và hứa:
- “Tôi thề sẽ
không bao giờ bỏ các anh đâu, yên chí, sáng hôm sau sẽ
có tôi bên cạnh.”
Hồ Khang xin mang theo lá Quốc Kỳ, Hậu mang máy PRC25.
Đêm hôm đó, toán
Quyết tử âm thầm lao ḿnh vào
đêm đen. Tôi thức theo dơi từng
bước đi, thỉnh thoảng cho pháo binh bắn
yểm trợ, soi sáng và chỉ hướng. Tiểu
đội này đôi lúc phải lẫn lách tránh các ổ
kháng cự của địch. Nửa đêm hôm
đó, toán Quyết tử báo cáo đă thấy
được Cổ thành và đang t́m cách lội qua hào
sâu, sát bờ thành:
-
“Nước sâu quá Đích thân.”
Hậu
thều thào trong máy. Tôi gọi pháo
binh bắn yểm trợ tối đa vào Cổ thành và xung
quanh. Ra lệnh tiền quân sẵn sàng xuất phát.
Tờ mờ sáng hôm
sau, trong khi vạn vật chưa tỉnh ngủ, bỗng
nhiên tôi nghe tiếng la lớn:
“Việt
Nam Cộng Ḥa muôn năm, Nhảy Dù muôn năm!”
Tôi nghe hiệu thính viên
đứt khoảng trong máy:
- “Quốc
Kỳ đă được dựng lên!”
Liền
sau đó tiếng nổ ầm vang tứ phía.
Đại liên 12 ly 8, AK47, B40…….bắn xối xả vào
một mục tiêu duy nhất – lá Quốc Kỳ!
Sau đó
mất liên lạc, tôi nhanh chóng ra lệnh xuất phát và
gọi pháo binh bắn đạn nổ chụp ngay trên
đầu bạn và xin thêm đạn khói bao phủ Cổ
thành. Pháo binh địch cũng bắt
đầu lên tiếng trả đũa.
- “Mưa rơi
nặng hột (pháo địch mạnh lắm)”
Nhưng
cho dù mưa rơi dữ dội cách mấy, cho dù bảo
tố tôi cũng phải đi. Tôi
phải cứu các đệ tử của tôi. Tôi
hối thúc Hồ Tường:
- “Sắp
tới rồi, c̣n không đầy 100m nữa thôi, nhanh lên
502!”
Tôi và Hồ
Tường song song tiến thẳng lên Cổ Thành, bỏ
2 Đại độ 81 Biệt kích bên cánh phải
đằng sau, thế là sườn phải bị bỏ
trống. Một vài binh sĩ bị
thương v́ pháo kích, tôi không màng để ư, cứ
tiến thẳng lên Cổ Thành và xin thêm lá Quốc Kỳ
thứ hai.
Sáng hôm
đó khi mặt trời ló dạng, chúng tôi đă nh́n
thấy Cổ Thành trước mặt. Nhưng lại có một chướng ngại
vật quá lớn, đó là thành quá dày và cao. Thành dày khoảng 5m, cao 5m và được bao
bọc bằng hào sâu tới cổ, rộng gần 10m.
Không
thể xử dụng được hàng ngang, tiền quân
bị khựng lại, đào hầm hố bố trí và t́m
phương thức tấn công. Trên mặt thành, địch pḥng thủ vững
chắc trong các lô cốt, bắn xối xả vào quân ta.
Hồ Tường
cứ di chuyển ẩn núp sau các dăy nhà sụp đổ,
chạy tới chạy lui và dùng súng bắn tỉa Việt
cộng trên thành. Mỗi lần nhắm trúng
một tên là hắn la lên vui mừng. Với
tôi, trước tiên phải làm sao phá vỡ được
thành mới tính tới chuyện xung phong. Nếu cho
quân lội qua hào, rồi dùng dây leo lên
thành, chắc chắn chỉ làm bia cho địch tác
xạ. Cho xử dụng 57 ly không giật,
kể cả 90 ly vẫn không thể phá nổi thành. Bên sườn phải, địch quân
vượt song Thạch Hăn chi viện, bám đầu
cầu và khai hỏa dữ dội bên phải. Trong
t́nh thế chẳng đặng đừng, tôi điều
động thêm một trung đội của Đại
đội 54 do Chuẩn úy Thạch Hớn chỉ huy
tấn công và giữ sườn bên phải.
Nhưng một trung
đội làm sao chống nổi biển người!
Đêm hôm đó đành
bám trụ cố thủ, cho thám sát mặt nước
cũng như kéo xác toán cảm tử c̣n kẹt trong thành.
Quả thật là một đêm kinh hoàng, tôi không thể nào
chợp mắt, cafe hết, thuốc lá chẳng c̣n……… Xác đệ tử cách ḿnh chỉ vài chục
thước chưa kéo về được, bức
tường thành kiên cố và hào sâu đầy
chướng ngại, làm cách nào thanh toán đây?
Khuya hôm đó, một
binh sĩ toán cảm tử chạy về được
báo cáo tôi biết: Hồ Khang, Trần Tâm, Hồ Con, Hậu
đă tử thương trên thành, số c̣n lại
đều thất lạc!
Sáng hôm sau, tôi cho xử
dụng hỏa tiển M72, 4 khẩu châu vào và bắn cùng
một lúc với hy vọng phá nổi tường thành,
nhưng bờ thành chỉ xây xuyển đôi chút rồi
vẫn sừng sững giữa trời……..
Ngày N+26, một ngày
định mệnh đă xảy đến!
Tôi
quyết định xử dụng bom cực mạnh
để phá thành. Sau khi ra lệnh cho binh sĩ hầm
hố cho thật kiên cố, tôi cho gọi Hồ
Tường đến chung một
hố sơ sài của dân để lại. Một sai
lầm lớn, không thể đặt hai bộ chỉ huy
Đại đội chung cùng một
hố. Ít nhất 4 cần antene và một
số binh sĩ lố nhố sẽ là mục tiêu tốt
cho địch pháo kích, nhưng để dễ chỉ huy
điều động, tôi chấp nhận mọi hậu
quả.
Sau khi nghe
tôi tŕnh bày kế hoạch, Hồ Tường có vẻ
lưỡng lự nhưng không dám căi. Tôi
quyết định đánh bom theo
trục Tây Bắc xuống Đông
Một
chiến thuật hoàn toàn sai nguyên tắc, rất nguy
hiểm cho quân bạn. Mục
đích của tôi là muốn lấy gạch đất
của thành để lấp hào sâu, làm bàn đạp xung
phong vào thành. Chiếc khu trục đầu tiên nhào
xuống, 2 quả bom rời cánh phi cơ, tất cả
đều cúi sát mặt đất, nón sắt che
đầu. Rồi chiếc thứ hai lao
xuống, thêm 2 quả nữa nổ long trời lỡ
đất, cát bụi tung phủ cả bầu trời………
Khi ngẩng đầu
lên nh́n trong đám bụi mờ, tôi thấy cả một
niềm vui, tôi vổ vai Hồ Tường:
- “Thành
đă bị vỡ, chuẩn bị xung phong!”
Sau khi
gọi pháo binh, đầu nổ chụp lẫn chạm
nổ, sau đó là 20 tràng đạn khói phủ ngập
mục tiêu. Tôi ra lệnh 2 trung đội đầu bỏ
balô tại chổ, một người cầm lựu
đạn, một người cấm súng vượt nhanh
qua hào sâu, bám chặt vào góc Cổ Thành đă bị vở. Nhờ đất đổ xuống lấp
mặt nước hơi cạn, lợi dụng màn khói bao
phủ, nên tiền quân vượt qua tương
đối dễ dàng. Khi màn khói vừa
tan, địch quân bắt đầu trả đủa
dữ dội. Nặng nhất là hai lô
cốt ở mặt tiền và giữa sân cột cờ
Tiểu khu, địch c̣n ngoan cố trong hầm hố
bắn trả rất mạnh. Tôi tung
thêm vào thành một trung đội, bung rộng đội
h́nh vừa đào hầm hố, vừa chống cự.
Phi cơ quan sát L19 bao
vùng báo tôi biết địch từ phía Bắc sông
Thạch Hăn tràn qua như kiến! Tôi một
mặt xin pháo binh yểm trợ, một mặt xin tiếp
phi tuần oanh kích.
Trong giờ phút dầu
sôi lửa bỏng như thế, th́nh ĺnh một tai họa xảy đến. Một
quả đạn cối 82 ly nổ ngay hầm chỉ huy.
Nói là “hầm” chứ thật ra chỉ là một ụ
ẩn nấp sơ sài, trước mặt
đường là hào sâu v́ tôi muốn dễ quan sát tiền
quân. Hồ Tường máu me đầy người, 3
hiệu thính viên: một chết, hai bị thương
nặng. Riêng tôi cảm thấy cánh tay
trái trĩu nặng, máu đào đă thấm ướt chinh
y. Tôi cho gọi Thượng sĩ Trực lên tải
thương và y tá băng bó tạm vết thương. C̣n
một tay vẫn c̣n xử dụng
được Combiné. Lúc đó tôi đă là người say
máu.
Gọi máy báo cáo về
Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn để nhận
được lời khiển trách của 101:
- “Căn dặn anh
nhiều lần, đừng chụm hai bộ chỉ huy
lại một chỗ, không nghe!”
Thiếu tá Lê Hữu
Chí B3 vẫn c̣n đùa cợt trong máy:
- “Xử
dụng Độc Cô cửu kiếm đi Lệnh Hồ
đại ca!”
Đôi lúc danh hiệu
truyền tin của tôi là “Lệnh Hồ Xung”, với t́nh
trạng này dù có 10 thành Cửu dương thần công, hay
độc cô cửu kiếm cũng đành bó tay!
Tôi cho
củng cố, phối trí lại lực lượng. Hai Đại đội 51 và 52 nhập lại
thành một. Bung 51 và Đinh Viết Trinh lên bên trái. Bên
phải sát bờ sông Thạch Hăn, hối thúc 2 Đại
đội 81 Biệt kích tiến lên giữ cạnh
sườn. Nhưng v́ sức kháng cự
của địch quá mạnh nên cánh quân này bị dậm
chân tại chỗ.
Đă kéo về
được 3 xác của toán Quyết tử: Hồ Khang
bị chặt làm 3 khúc nhận ra được v́ anh
đeo thẻ bài dưới chân, Hồ Con gục ngă, Lê Văn
Lịch bị bắn ngay giữa đầu……..số c̣n
lại bị thất lạc.
Ra lệnh
cho các trung đội trong thành củng cố hầm
hố, tôi quyết định cho dựng Quốc Kỳ
lên lần thứ hai. Cờ vàng ba sọc
đỏ là mối thù không đội trời chung của
Cộng sản, cho nên vừa thấy lá Cờ tung bay là
chúng khai hỏa dữ dội, nặng nhất c̣n ở
giữa cột cờ Tiểu khu Quảng Trị. Hai
khẩu 12 ly 8 ở lô cốt mặt tiền hạ ṇng
bắn xối xả, B40, B41, AK47 châu thẳng vào cột
cờ. Quân ta cũng chống trả quyết liệt
với quyết tâm giữ vững ngọn cờ!
Tôi gọi
L19 lên bao vùng và quyết định dùng bom đánh thẳng
vào cột cờ Tiểu khu. Danh
hiệu của L19 bấy giờ là Phi Long (nếu tôi
nhớ không lầm).
- Phi Long, Phi Long đây!
501 gọi, nghe rơ trả lời!
- Phi Long tôi nghe.
- Anh có nh́n thấy lá
Quốc Kỳ ở góc Đông Nam Cổ Thành không?
- OK, đă nh́n thấy
rỏ!
- Tôi đang ở
đó. Anh cho đánh từ lá Cờ về hướng Tây
Bắc từ 100 đến 150m, nhận rơ trả lời.
- Nhận rơ 5/5.
- Lưu ư anh là pḥng
không địch rất mạnh. Hỏa
tiển SA7 và 37 ly đang chào đón các anh.
Lưu ư
dùm fighter đánh trên đầu khói, v́ khói đang bay dạt
về hướng tôi.
- Đă nhận rơ, tôi
sẽ gọi phi tuần đến ngay!
Khoảng 10 phút sau, 2
chiếc A37 bán phản lực vào vùng, bay lượn xung
quanh và chờ L19 chỉ điểm. L19 bay quá cao để
tránh pḥng không nên khi lao xuống bắn
khói chỉ điểm không được chính xác, hơn
nữa cụm khói đang từ từ theo chiều gió bay đến
chúng tôi…
Tôi vừa bấm máy
gọi Phi Long th́ chiếc A37 đă đầu tiên lao xuống, 2 quả bom rơi xuống ngay
trung đội đầu.
Tôi thất thanh la
lớn: “Check fire ngay lập tức!”
Nhưng sát theo sau là chiếc thứ hai lao xuống, 2
quả nữa chấn động cả vùng. Tôi ra lệnh
tung khói màu và gọi “check fire”.
Đă trễ rồi! “Phi cơ đă đánh lầm chúng tôi rồi!”
Tôi cảm thấy
lồng ngực ê ẩm, tay chân nặng
trĩu. Cả một bầu trời sụp
đổ thê lương. Hơn phân
nửa của 3 trung đội đầu gần như tê
liệt. Nh́n binh sĩ lần
lượt tải thương, d́u nhau trở lại mà
ḷng tôi tê cứng. Tại sao?
Định mệnh nghiệt ngă hay số trời?
Tôi rút máy h́nh chữ
nhật ra định tiêu hủy mục tiêu, lưỡng
lự…..lại thôi! Rút colt 45 ra định kết liễu
đời ḿnh để đi theo
chiến hữu, nhưng đệ tử xung quanh ngăn
cản.
Sau khi báo
cáo về Bộ Chỉ Huy, tôi kiểm soát lại binh
sĩ, tạm bố trí chờ lệnh. Chiều hôm đó, Trung Tá Hiếu cho Thiếu Tá Bùi
Quyền lên thay và cho tôi về dưỡng thương.
Nhưng tôi biết rơ, nếu tôi về đêm
nay và nếu lỡ bị địch tấn công coi như
tan ră. Tôi cần ở lại và quyết
định từ chối tải thương.
Thiếu
tá Bùi Quyền cho biết lệnh ngày mai bàn giao Cổ Thành
lại cho Thủy Quân Lục Chiến để nhận
nhiệm vụ khác. Tôi không cần thắc
mắc, v́ thật ra tôi chỉ c̣n là một cái xác không
hồn, đau thương, uất nghẹn…..
Chỉ v́ Cổ Thành Quảng
trị, chỉ v́ lá Quốc Kỳ, mà biết bao nhiêu
chiến binh Mũ Đỏ đă bị thương và
nằm xuống nhẹ nhàng và hănh diện.
Sáng hôm sau, 27/7/1972, bàn
giao vùng trách nhiệm lại cho TQLC trong màn khói bao phủ
để tránh địch quân quan sát, pháo kích và tấn công.
Địa điểm đầu tiên cách
bờ thành chưa đầy 100m, nằm trong tầm
đạn của quân thù.
Sau ngày
27/7/1972, chiến thuật và sự điều binh của
TQLC tôi hoàn toàn không rơ.
Thay
lời kết:
Tôi muốn nói:
“Nhảy Dù” đă đánh và đă vào Cổ Thành Quảng
Trị như thế đó. Vào bằng
tất cả hỏa lực và máu xương. Vào bằng tất cả quyết tâm của
tuổi trẻ hiến dâng cho Tổ Quốc, cho dân
tộc. Quyết tâm dựng lại cho
bằng được lá Quốc Kỳ.
Nhưng than ôi: “Mưu
sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Bây
giờ, đă 37 năm trôi qua, trong lúc TQLC chuẩn bị
làm Lễ Chiến thắng Cổ thành Quảng Trị th́
cũng có một người đang âm thầm làm giỗ
tưởng niệm các đệ tử thân thương
của ḿnh, cho dù đơn giản với một vài nén
hương, một vài đóa hoa hay đôi ḍng thương
nhớ để nói lên sự hy sinh, ḷng dũng cảm và
hào hùng của những “thiên thần Mũ Đơ”
trong trận chiến Cổ Thành.
Hồ Khang, Hồ Con,
Trần Tâm…..quê hương tôi nghèo, tên tôi không chữ lót,
nhưng họ mới thật sự là những anh hùng.
Một
Đỗ Từ Long, đầu không bao giờ mọc tóc
v́ ba gai thành phố, nhưng đánh giặc th́ ĺ lợm
mấy ai bằng. Chạy lên chạy
xuống xin lựu đạn để gục ngă trên
hố quân thù. Ngày nào nó cũng nghêu ngao:
“Tóc em dài
em cài hoa Thiên lư,
Tóc anh dài,
Thượng sĩ cạo đầu anh….”
C̣n nhiều và rất
nhiều nữa, Thượng sĩ già Nguyễn Văn
Trực, Hậu, Lịch, Tống, Ḱnh….tất cả đă
cùng tôi dầm sương dăi nắng, qua bao nhiêu hiểm
nguy binh lửa, mà phút chốc đă bỏ tôi nằm đây
bất động…….
C̣n 52, c̣n Tiểu
đoàn 5 Nhảy Dù, Đại đội 2 Trinh sát,
Biệt kích 81 Dù, bao nhiêu người nằm xuống?!
Lịch sử có ghi,
xin hăy ghi dùm, HỌ mới đích thực là anh hùng. Chưa
bao giờ họ được hưởng bổng
lộc, chưa bao giờ được thấy vinh quang
dù chỉ trong chớp mắt nh́n được Cờ vàng
3 sọc đỏ tung bay trên Cổ Thành Quảng trị,
cho dù một phút giây, cho dù giữ không nổi, nhưng
họ đă cho đó là sứ mệnh thiêng liêng của
người lính VNCH, của chiến binh Mũ Đỏ.
Hăy chờ tôi các em nhé! Cho dù sớm hay muộn, cho dù
con đường có ngắn hay dài, tôi cũng sẽ
gặp lại các em ở một nơi xa xăm nào đó,
để cùng nhau nâng chén rượu đoàn viên:
“Xin cho tôi một mộ phần,
Bên ngàn chiến hữu của tôi.”
Sydney, mùa
đông 2009.
Trương Đăng Sỹ