CA DAO TRÀO PHÚNG
Lê Thương
Đề cập đến văn chương, chúng
ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một
trong những thể loại quen thuộc nầy. Từ
lâu, ca dao đã đi vào lòng dân tộc và ca dao trào phúng là ca
dao nói về những nét trào phúng, hài hước, bông
đùa, hóm hinh, dí dỏm trong kho tàng văn chương bình
dân của tiếng Việt ta.
Ngày xưa, cha mẹ chồng rất hà khắc với
nàng dâu, nhất là mẹ chồng cho nên các cô gái ngày xưa rất
“ớn” về làm dâu nhà chồng:
Gió
đưa bụi chuối tùm lum,
Mẹ anh như hùm ai dám làm dâu.
Hay:
Bà con
có biết hay không?
Bố chồng là lông chim phượng.
Mẹ
chồng là tượng mới tô,
Nàng dâu mới về là bồ chịu chửi.
Còn các nàng dâu ngày nay đã có các “Phong Trào
Giải Phóng Phụ Nữ” đứng sau lưng hay “Đời
Mới, Phụ Nữ Mới” vì thế các nàng thường
ngâm nga câu:
Ai
ơi chồng dữ thì lo,
Mẹ
chồng mà dữ mổ bò ăn khao.
Đó
là mẹ chồng dữ, còn cha chồng mà dữ thì:
Ai
ơi chồng dữ thì rầu,
Bố
chồng mà dữ mổ trâu ăn mừng.
Trong tình trường, có nhiều cô gái ỷ mình đẹp,
có nhan sắc hay con nhà giảu nên làm cao:
Anh về
chẻ lạt bó tro,
Rán sành ra mỡ em cho làm chồng.
Hoặc:
Duyên em
đáng giá ngàn vàng,
Anh về bán cả họ hàng cưới em.
Nhưng
chàng trai đáp:
Anh về
bán cái hột xoàn,
Bán thêm cây vÀng dư sức cưới em.
Hay:
Thân em
như cái chuông vàng,
Để trong thành nội có ngàn lính canh.
Chàng trai đáp lại:
Thân anh
như cái chày vồ,
Bỏ
lăn, bỏ lốc chờ ngày dộng
chuông.
Đối với những cặp
vợ chồng mà tuổi tác hay kích thước chênh lệch
thì ca dao trào phúng có câu:
Có phúc
lấy phải vợ già,
Sạch
cửa, sạch nhà lại ngọt cơm canh.
Vô phúc
lấy phải trẻ ranh (bồ nhí),
Nó ăn, nó phá tan tành nó đi.
Hay:
Ai
đời chồng thấp, vợ cao,
Rờ vú không tới lấy sào mà quơ.
Còn về những phụ nữ nhan sắc
tàn phai, ca dao ta có câu châm biếm:
Mồ
cha con bướm khôn ngoan,
Hoa thơm bướm đậu, hoa tàn bướm
bay.
Hay:
Còn
duyên như tượng tô vàng,
Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa.
Hoặc:
Còn duyên kẻ đón người đưa.
Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng.
Và:
Còn
duyên kẻ đợi người chờ,
Hết duyên vắng ngắt như Chùa Bà Đanh.
Trong tình trường, những
kẻ nhiều kiên nhẫn, “lì” thì đạt được
thành công:
Chuông
già đồng điếu chuông kêu,
Anh già lời nói em xiêu tấm lòng.
Nhưng đối với những
phụ nữ nhẹ dạ thường nghe những lời
nỉ non ngon ngọt ca dao ta khuyên:
Chớ
nghe quân tử nỉ non,
Để
rồi có lúc ẵm con một mình.
Hay:
Gá duyên
với bạn hôm rằm,
Bữa nay bạn bỏ tôi nằm phòng không.
Còn những phụ nữ có chồng
mê vợ bé, bỏ bê gia đình thì than:
Gió
đưa bụi chuối sau hè,
Anh mê vợ
bé bỏ bè con thơ.
Con
thơ tay ẵm, tay bồng,
Tay nào
xách nước, tay nào vo cơm.
Bởi thế cho nên ca dao khuyên
những người đàn ông nhiều vợ rằng:
Trồng
trầu thì phải khai mương,
Làm trai nhiều vợ phải thương cho đồng.
Đàn
ông là những người tham lam cho nên ca dao có câu:
Sông bao
nhiêu nước cho vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.
Đàn ông tham lam, năm, bảy
trái tim:
Đàn
ông năm, bảy trái tim,
Trái ở
cùng vợ, trái toan cùng người.
Hay:
Hai cô
đứng lại cho đồng,
Để anh đứng giữa làm chồng hai cô.
Hoặc:
Lựu,
lê anh cũng muốn trồng,
Hai em anh cũng thương đồng cả hai.
Và:
Cây lê,
cây lựu, cây đào,
Ba cây anh cũng muốn rào cả ba.
Ca
dao ta cũng trách những người ăn
ở hai lòng:
Trách ai
ăn ở hai lòng,
Đang
chơi với phượng, thấy rồng bay theo.
Ở đời có nhiều
người chủ quan, tự phụ:
Gió thu thổi ngọn phù dung,
Dạ
nàng dù sắt anh
nung cũng mềm.
Trong
tình trường, có người tán gái hơi ngộ
nghĩnh:
Gái
chưa chồng hay đi chợ,
Trai chưa vợ ruột tợ trái chanh.
Ngó lên
mây trắng trời xanh,
Thương
ai cũng vậy, thương anh cho rồi.
Khi mới
quen nhau:
Nàng về
ta chẳng cho về,
Níu áo
nàng lại ta đề bài thơ
Hay:
Nàng về
ta chẳng cho về,
Nắm áo nàng lại ta đề số phone.
Khi yêu nhau, ta nương tựa
nhau, ta dìu dắt nhau:
Đôi
ta như rắn liu điu,
Nước chảy mặc nước ta dìu lấy
nhau.
Khi yêu nhau, ta thương nhớ
nhau, muốn gần gũi bên nhau nên nàng
ước:
Ước
gì em hóa ra dơi,
Bay
đi bay lại đến nơi anh nằm.
Hay:
Thương
anh không tính bạc tiền,
Hôn nhau một cái chết liền cũng vui.
Hoặc:
Anh về
em cũng về theo,
Mẹ
anh đóng cửa, em leo cột nhà.
Tục ngữ có câu “Nhất gái
hơn hai, nhì trai hơn một” cho nên:
Tuổi
nàng đã chẵn hai mươi,
Tuổi anh hăm mốt tốt tươi quá chừng.
“Cua” em để dành:
Cam sành
lột vỏ còn chua,
Thấy
em còn bé, anh “cua” để dành.
Hay:
Thấy
em còn bé anh “ve” để dành.
Và:
Cầm
chài mà vãi bụi tre,
Con gái
mười bảy đi “ve” ông già.
Trong tình trường, khi yêu nhau
cưới liền để lâu thì mất cho nên ca dao
khuyên:
Ai về
nhắn với ông câu,
Cá
ăn thời giật, để lâu mất mồi.
Đối với những anh
chàng dại gái, ca dao trào phúng châm biếm:
Tiếc
công khổ cực nuôi cu,
Cu
ăn, cu lớn, cu gù, cu đi,
Hay:
Công anh
xúc tép nuôi lươn,
Nuôi cho
nó lớn, nó trườn nó đi.
Hoặc:
Công anh
chăn nghé đã lâu,
Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày.
Cá ăn không giật để lâu mất mồi
rồi than trời, trách đất:
Trách trời
sao vội mưa giông,
Trách em sao vội lấy chồng bỏ anh.
Còn đối với những
anh chàng thất tình, ca dao trào phúng bông đùa:
Rồi
đây có kẻ thất tình,
Dựa
mai mai ngã, dựa tùng tùng xiêu.
Hay:
Chiều
chiều có kẻ thất tình,
Dựa
mai mai úa, dựa đình đình xiêu.
Hoặc:
Thất
tình nước mắt như mưa,
Thấu
trời, thấu đất nhưng chưa thấu lòng.
Và:
Châu sa nước mắt ròng ròng,
Thấu
thiên, thấu địa, thấu lòng em chăng?
Trai tơ đòi vợ:
Chuối
non chuối ép chát ngầm,
Trai
tơ đòi vợ khóc thầm ban đêm.
Khóc rồi
mẹ lại đánh thêm,
Vợ đâu mà cưới nửa đêm cho mày.
Còn những chàng trai tơ mà lấy
gái nạ dòng, ca dao trào phúng chế giễu:
Trai
tơ thì lấy gái tơ,
Đi đâu lật đật mà quơ nạ dòng.
Không đưa hối lộ đếch
“ừ”:
Chắp
tay lạy cụ tỉnh yêu,
Cho con
lấy được nàng Kiều ngày nay.
Cụ
nhìn trợn mắt, cau mày,
Không đưa hối lộ thì đây đếch “ừ”.
Đi đâu mà chẳng lấy
chồng:
Đi
đâu mà chẳng lấy chồng,
Người ta lấy hết chổng mông mà gào.
Gào rằng
đất hỡi, trời ơi,
Sao không thí bỏ cho tôi chút chồng?
Hay:
Đi
chùa lạy Phật cầu chồng,
Hộ Pháp liền bảo đàn ông hết rồi.
Vì không chồng cho nên buồn rầu:
Buồn
rầu, buồn rĩ, buồn non,
Buồn
vì một nỗi sớm con muộn chồng.
Hết buồn rầu lại
đến buồn tình:
Buồn
tinh nằm ngửa chình inh,
Không ai nằm úp lên minh cho vui.
Và:
Buồn
tình hai đứa buồn tình,
Ai về Đồng Tháp cho mình quá giang.
Con gái mà chơi với con trai:
Con gái
chơi với con trai,
Rồi sau cái vú bằng hai trái dừa.
Má ơi đừng gả con gần:
Má
ơi đừng gả con xa,
Chim
kêu, vượn hú biết đâu mà lần.
Má
ơi đừng gả con gần,
Con qua
xúc gạo nhiều lần má la.
Chọn bạn mà chơi:
Chọn
xoài đừng chọn xoài chua,
Chọn bạn đừng để bạn “cua” bồ
mình.
Sài Gòn, Nam Vang đi dễ, khó về:
Sài Gòn
đi dễ khó về,
Trai
đi có vợ, gái về có con.
Hoặc:
Nam Vang
đi dễ khó về,
Trai
đi có vợ, gái về có con.
Đường
cong cong, quèo quẹo:
Đường
Sài Gòn cong cong, quèo quẹo,
Gái Sài
Gòn không ghẹo mà theo.
Hay:
Đường
lục tỉnh cong cong, quèo quẹo,
Gái lục
tỉnh không ghẹo mà theo.
Nhiều gái ế chồng:
Bến
Tre nhiều gái ế chồng,
Không
tin xuống chợ Mỹ Lồng mà coi!
Ca dao trào phúng của ta cũng
không quên bông đùa, chiâm biếm những phụ nữ có
tánh
lẳng
lơ, hoa nguyệt:
Anh
đánh thì em chịu đòn,
Tánh em
hoa nguyệt mười con chẳng chừa.
Hay:
Chỉ
đâu mà buộc ngang trời,
Thuốc
đâu mà chữa con người lẳng lơ.
Hoặc:
Lẳng
lơ đeo nhẫn chẳng chừa,
Nhẫn thì rơi mất, lẳng lơ vẫn cón.
Chờ ông láng giềng:
Đêm
qua để cửa chờ chồng,
Đêm nay để cửa chờ ông láng giềng.
Và:
Cái
giường mà biết nói năng,
Thì ông
hàng xóm hàm răng chẳng còn.
Giữa chồng và trai:
Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả
chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Hoặc:
Đêm
nằm ôm gối thở dài,
Thương
chồng thì ít, thương trai thì nhiều.
Đàn bà
Bình Định nổi tiếng giỏi võ nghệ, giỏi
côn quyền nên ca dao có câu:
Ai về
Bình Định mà coi,
Đàn
bà cũng biết đánh roi, đi quyền.
Nhưng:
Ai về
Bình Định mà coi,
Đàn bà Bình Định ra oai đánh chồng.
Ai mua cây si:
Ai mua
tôi bán cây si,
Si tôi tốt
giống, cành chi chít cành.
Hễ
mà gặp được đất lành,
Là si phát triển trở thành “siđa”.
Ca dao trào phúng cũng còn châm biếm những
anh chàng sở khanh:
Yêu em mấy
núi cũng trèo,
Khi em
có chửa mấy đèo cũng dông
Nếu mà
anh phải lấy nàng:
Trên trời
có đám mây xanh,
Ở
giữa mây trắng, xung quanh mây vàng.
Nếu
mà anh phải lấy nàng,
Anh thà thắt cổ cho nàng ở không.
Trên đồng
cạn, dưới đồng sâu:
Trên
đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng
cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
Nhưng:
Trên
đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng
cày, vợ cấy thằng cu ra đời.
Thu đi để lại lá vàng:
Thu
đi để lại lá vàng,
Anh đi để lại cho nàng thằng cu.
Mùa thu tiềp nối mùa thu,
Thằng cu tiếp nối thằng cu ra đời.
Qua đình ngả nón:
Qua
đình ngả nón trông đình,
Đình
bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
Nhưng:
Qua
đình ngả nón trông đình
Nhìn anh
ăn mặc thùng thình em chê.
Đường về đêm tối:
Đường
về đêm tối canh thâu,
Nhìn anh
tôi tưởng con trâu đang cười.
Giỡn chơi chút xíu:
Gió
đưa bụi chuối sau hè,
Giỡn chơi chút xíu ai dè có con.
Trách người quân tử:
Trách
người quân tử bạc tình,
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao.
Hay:
Trách
người quân tử gian manh,
Chơi hoa rồi lại hái cành kế bên.
Chồng đòi “tòm tem”:
Đang
khi lửa tắt, cơm sôi,
Lợn
la, con khóc, chồng đòi “tòm tem”.
Bây giờ
lửa đã cháy rồi,
Lợn
no, con nín “tòm tem” thì tòm.
Chính chuyên:
Chính
chuyên chết cũng ra ma,
Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng.
Hay:
Chính
chuyên lấy được chín chồng,
Ba chồng
thành Lạng, ba chồng thành Cao.
Ba chồng
để ngọn sông Đào,
Trở về đóng cửa làm cao chưa chồng.
“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng
phu”:
Thuyền
theo lái, gái theo chồng,
Chồng
đi hang rắn, hang rồng cũng theo.
Cưới nàng được
chăng:
Kẹo
Mỏ Cày vừa thơm, vừa béo,
Gái Mỏ
Cày vừa khéo, vừa ngoan.
Anh
đây muốn hỏi thiệt nàng,
Làm trai Thạnh Phú cưới nàng được
chăng?
Trời ở bất công:
Trời
sao trời ở bất công,
Người
ba bốn vợ, người không vợ nào!
Ba bà tìm nhà bà tư:
Bà cả,
bà bé, bà ba,
Ba bà dắt
díu tìm nhà bà tư.
“Một vợ nằm
giường Lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ra chuồng
heo mà nằm. Thế còn 5 vợ thì sao?
Xin thưa:
Đêm
khuya năm vợ ngồi hầu,
Vợ
cả pha nước, têm trầu chàng
xơi.
Vợ
hai trải chiếu chàng ngồi,
Vợ
ba coi sóc nhà ngoài, nhà trong.
Vợ
tư sửa soạn giăng mùng,
Vợ năm dưới bếp trong lòng xót xa.
Chè
thưng, cháo đậu bưng ra,
Chàng xơi một bát kẻo mà hết gân.
Đám cưới linh đình:
Trên trời
có đám mây xanh,
Ở
giữa mây trắng, chung quanh mây vàng.
Ước
gì anh lấy được nàng,
Hà Nội,
Thái Bình sửa đàng rước dâu.
Thanh
Hóa cũng đốn trầu cau,
Nghệ
An thì phải thui trâu, mổ bò.
Phú Thọ
quạt nước hỏa lò,
Hải
Dương rọc lá làm giò, gói nem.
Tuyên
Quang nấu bạc, đúc tiền,
Ninh
Bình dao thớt, Quảng Yên đúc nồi.
Kiên
Giang gánh đá nung vôi,
Thừa
Thiên, Đà Nẳng thổi xôi, nấu chè.
Quảng
Bình, Hà Tĩnh thuyền ghe,
Sài Gòn,
Gia Định chẻ tre bắc cầu.
Anh mời
khắp nước chư hầu,
Nước
Tây, nước Tàu anh gởi thư sang.
Nam Tào,
Bắc Đẩu dọn đàng,
Thiên
Lôi, La Sát hai hàng, hai bên.
Lê Thương