Cuộc
Di Tản Tệ Hại Ở Toà Đại Sứ Mỹ
. (Nguyễn Việt Tự Do
phỏng dịch)
Lời dịch giả: Nhân
tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 tháng 4,
trước cao trào tranh đấu chống cộng dâng cao
ở hải ngoại phát đi từ Little Saigon lan ra
khắp nơi trên thế giới và tiếng nói can
đảm phản tĩnh của các cựu đảng
viên cộng sản cũng như yêu sách về nhân quyền
của những trí thức và tu sĩ ở quốc
nội, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng ngày
cuối cùng của bạo quyền cộng sản không c̣n
bao xa . Nhưng, tất cả người
Việt
Chiến
dịch "Cơn gió thường lệ"
.
Ngày 9-4-1975
người Mỹ bắt đầu thảo chi tiết
các kế hoạch di tản . Tùy viên quân
sự Mỹ , đại tá Whale đưa ra bốn
khả năng : kế hoạch 1 và 2 là di tản dần
dần bằng đường hàng không , kế hoạch 3
là di tản đồng thời bằng đường
hàng không và đường biển và kế hoạch 4 là di
tản bằng trực thăng vận ngay tại Sài G̣n.
Các người
Mỹ được căn dặn phải mở nghe
thường trực các đài phát thanh quân sự Mỹ và
chờ nghe thông điệp ngụy hóa như sau
: "Mẹ muốn anh điện thoại về nhà
" và bản tin thời tiết : "Bây giờ là 40
độ và nhiệt độ đang tăng lên", sau
đó là bản "Giáng Sinh trắng " do Bing Crosby hát .
Loạt mật lệnh này được truyền đi
15 phút một lần .
Lực
lượng đăc nhiệm 76 của Hải Quân Mỹ
cùng với các hàng không mẫu hạm Hancock ,
Okinawa và Midway chờ đợi ngoài khơi Việt
Hỗn
loạn ngay từ phút đầu .
Ken Moorefield là cố vấn
đặc biệt của đại sứ Mỹ ở
Sài G̣n . Anh ta đang làm việc ở sân
bay Tân Sơn Nhứt khi công cuộc di tản bắt
đầu trở nên dồn dập từ ngày 20 tháng 4 . Anh kể lại rằng trong căn
cứ quang cảnh đă trở nên hỗn loạn
. Anh nói :"Chúng tôi nhận
được lệnh chỉ di tản người
Mỹ và gia đ́nh của họ . Ban đầu tôi c̣n khuyến
khích các người Mỹ cưới vợ Việt
T́nh h́nh trở nên
khó kiểm soát . Ở Tân Sơn Nhứt
có những quân nhân Việt Nam Cộng Ḥa không thể ở
lại một khi Cộng sản chiếm được
chính quyền . Nhiều màn xô xát giữa
các quân nhân và thường dân xảy ra khi họ giành nhau lên
máy bay di tản . Nhiều hoa tiêu Việt
Ngày 29 tháng 4 năm
1975 vào lúc 4 giờ sáng , quân cộng sản Bắc Việt
bắt đầu pháo kích vào thủ đô Sài G̣n . Tiếng
nổ đánh thức Moorefield dậy ,
anh quay lại phi trường . Anh kể: "Khi tôi
đến, phi trường đang bị pháo kích bằng
rốc-kết . Các trực thăng và phi
cơ cố gắng cất cánh để thoát cuộc pháo kích . Thủ đô Sài G̣n ch́m trong khói lửa
và quân cộng sản đă bố trí các hỏa tiễn
chung quanh Sài G̣n . Chúng tôi hiểu rằng
ḿnh chỉ c̣n vài giờ , thậm chí vài
phút để thoát thân." Khi hay tin phi trường bị
tấn công bắng rốc-kết đến Hoa Thịnh
Đốn , một loạt các phiên họp thượng
đỉnh được triệu tập cấp tốc
và tổng thống Ford ra lệnh cho đại sứ Martin
di tản hết những người Mỹ c̣n kẹt
lại ở Sài G̣n .
Trực
thăng cứu viện .
Khi Martin bật
đèn xanh cho cuộc di tản cuối cùng , 81 chiếc
trực thăng cất lên từ các tàu của đệ
thất hạm đội Mỹ đang đậu ngoài khơi
Việt Nam và nhắm hướng phi trường Tân
Sơn Nhứt lúc đó đang bị quân đặc công
Cộng sản pháo kích từng chập . Cuộc pháo kích
đă ngăn cản các phi cơ hạ cánh nên sự
xuất hiện của các trực thăng gây phấn
khởi cho mọi người . Cho
tới 19 giờ 30, nhờ các chuyến bay đi và bay
về không ngừng đến các hàng không mẫu hạm mà
các trực thăng di tản được gần hết
mọi người . Giờ chỉ c̣n lo di tản toà
đại sứ Mỹ . Moorefield v́
bận kiếm gom những "con vịt đẹt"
chậm chân nên đến ṭa đại sứ Mỹ lúc
đă xế chiều . Quanh anh hàng ngàn
người Việt
Nhiếp ảnh
viên của hăng thông tấn AP , Neal Ulevich
cũng kẹt trong đám đông đang xô đẩy nhau
trước cỗng ṭa đại sứ lúc khởi
đầu cuộc di tản bằng trực thăng . Anh
nói: "Chúng tôi biết rằng các Thủy Quân Lục
Chiến sẽ đưa chúng tôi vào ,
nhưng phải làm sao tiến đến sát cỗng
mới được . Hàng mấy ngàn người
Việt
Bên trong ṭa
đại sứ Mỹ .
Nhiều bà mẹ
nâng cao các cháu bé hy vọng Thủy Quân Lục Chiến trông
thấy sẽ cho họ vào . Các Thủy
Quân Lục Chiến dùng chân đạp những người
Việt
Chỉ di
tản người Mỹ thôi .
Bốn giờ sáng
ngày 30 tháng 4 , Hoa Thịnh Đốn ra
nghiêm lệnh chỉ được di tản nhân viên
người Mỹ thôi . Khi chiếc trực thăng kế
tiếp đáp xuống , Moorefield hộ
tống đại sứ Mỹ lên tàu . Vẫn c̣n
khoảng từ 300 đến 400 người Việt
Nguyễn
Việt Tự Do phỏng dịch
Theo tài liệu: "Nam, l'histoire vécue de la guerre du Vietnam,
1965-1975" của nhà Atlas, Paris .