Đă đến lúc nói thật
Lê Phan
Cho đến nay chính quyền Hà Nội vẫn
cứ úp mở về bức công hàm mà cố thủ
tướng Phạm Văn Đồng đă viết cho
Bắc Kinh.
Và trong khi
đó, Bắc Kinh, bất cứ lúc nào có cơ hội,
cũng nhắc lại bức công hàm này.
Vậy bức công
hàm đó đă xác nhận điều ǵ. Như một
số học giả trong nước đă nhắc
lại, năm 1958, Bắc Kinh đă ra một tuyên bố
về lănh hải. Các tài liệu của các học giả
ở trong nước thường nói là việc Bắc
Kinh đưa ra tuyên bố về lănh hải này là v́ sợ
Hoa Kỳ khi Hoa Kỳ gửi đệ thất hạm
đội đến eo biển Đài Loan sau cuộc pháo kích
kinh hồn của Trung Quốc vào hai đảo Kim Môn và Mă
Tổ vào giai đoạn năm 1956. Lư luận đó thực
vô lư v́ Hoa Kỳ gửi hạm đội đến vùng
này chỉ v́ sợ Bắc Kinh thôn tính Đài Loan.
Bản tuyên bố đưa ra năm 1958 có một
số điều đặc biệt là về lănh hải
tính theo hải phận từ các ḥn đảo mà bản
tuyên bố bao gồm đảo Đài Loan, quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Mặc dầu xác nhận hải
phận chỉ có 12 hải lư, nhưng bản tuyên bố
khẳng định “Các đường thẳng nối
liền mỗi điểm căn bản của bờ
biển trên đất liền và các đảo ngoại
biên ngoài khơi được xem là các đường
căn bản của lănh hải dọc theo đất
liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần
biển 12 hải lư tính từ các đường căn
bản này là hải phận của Trung Quốc.” Bản
tuyên bố c̣n khẳng định là nếu không có sự
cho phép của Bắc Kinh th́ “tất cả máy bay
nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm
nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên
hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào
di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều
phải tuân thủ các luật lệ liên hệ của chính
phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa”.
Trong một
bản phân tích công phu của trên IBRU Boundary and Security
Bulletin, Tiến Sĩ Daniel J. Dzureck giải thích là nguyên
tắc đường thẳng, mà tiếng Anh gọi là
“baseline” đă được Trung Quốc định
nghĩa rộng hơn b́nh thường. Tính hải
phận theo baseline, theo Công Ước Quốc Tế về
Luật Biển chỉ được tính đối với
đất liền dựa trên đường lúc triều
xuống đánh dấu bởi các bản đồ
được công nhận bởi quốc gia đó. Trong
các đoạn có nhiều eo biển, công ước công
nhận việc nối hai đỉnh của eo biển
nếu eo biển đó không có tranh chấp chủ
quyền.
Sau khi kư vào Công
Ước Quốc Tế về Luật Biển năm
1982, Bắc Kinh cũng khẳng định thêm vùng
đặc quyền kinh tế 200 hải lư. Trong văn
bản đính kèm được gửi đến ông
tổng thư kư Liên Hiệp Quốc, Bắc Kinh c̣n
đưa ra thêm khẳng định “Tái xác định
những điều khoản của công ước Liên
Hiệp Quốc về Luật Biển liên quan đến
việc lưu thông vô tư qua vùng biển lănh hải
sẽ không thay đổi quyền của quốc gia duyên
hải yêu cầu, theo đúng luật lệ của ḿnh,
một quốc gia khác phải xin phép trước và thông báo
cho quốc gia ven biển cho việc di chuyển của các
chiến hạm qua vùng biển của quốc gia này.”
Tiến Sĩ
Dzurek đă bày tỏ ngạc nhiên “Thật bất b́nh
thường cho một quốc gia thêm một đ̣i
hỏi chủ quyền trong văn kiện đính kèm.
Lời tuyên bố đính kèm chữ kư công nhận công
ước cũng tái xác nhận chủ quyền hải
đảo và những lời lẽ lộn xộn về
lưu thông vô tư.” Nhiều quốc gia coi cả hai
điều kiện về “chấp thuận trước”
và “thông báo trước” là đi ngược lại với
công ước năm 1982
Ông Dzurek cũng nói
là Bắc Kinh không định nghĩa rơ ràng khu vực
đặc quyền khai thác của họ, nhưng với
các vùng biển ven biên bao quanh Trung Quốc, hẳn là có nhiều
khu vực vùng 200 hải lư sẽ đụng với các
quốc gia láng giềng. Bắc Kinh có hứa là sẽ
điều đ́nh với các quốc gia lân bang thành ra
phải nói khu vực đặc quyền 200 hải lư
của Bắc Kinh chưa định h́nh.
Một trong
những điều mà ông Dzurek ghi nhận là
đường thẳng của Bắc Kinh trong vịnh
Bắc Việt sẽ đụng sâu vào vùng hải phận
của Việt Nam, bởi nếu đúng vậy th́ Bắc
Kinh phải ngừng lại bên ngoài vịnh Bắc Việt
và cùng lắm chỉ nhận một phần nhỏ của
vịnh này.
Ông Dzurek khẳng
định là Bắc kinh đă định đường
hải phận tính qua các ḥn đảo thuộc quần
đảo Hoàng Sa mà họ không được quyền theo
luật biển. Điều 46 của Luật Biển xác
định là chỉ có các quốc gia quần đảo
mới có quyền tính hải phận theo đảo,
một điều mà cả Trung Quốc lẫn Việt Nam
đều không áp dụng được, và việc tính này
phải dựa trên tỷ số đất liền so
với biển ở tỷ lệ 1:1 hay 9:1. Khu vực
Bắc Kinh nói là chủ quyền quanh quần đảo
Hoàng Sa lên đến 17,400km2. Những vùng đất
của quần đảo Hoàng Sa không được xác
định rơ ràng nhưng nếu đúng theo tiêu chuẩn
của luật biển th́ cần phải có 1,933km mới
đủ tỷ lệ đất đai so với
nước.
Lúc đó, Bắc
Kinh chưa vẽ đường hải phận bao quanh
quần đảo Trường Sa. Mới đây họ
vẽ thêm khu vực đó và nhờ vậy cộng lại
thành đường lưỡi ḅ, hay đúng hơn
đường thẳng 9 đoạn.
Cũng năm đó, Thủ Tướng Phạm
Văn Đồng của Hà Nội gửi một công hàm cho
Thủ Tướng Chu Ân Lai trong đó ông Đồng viết
“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa
ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958
của chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa
quyết định về hải phận của Trung
Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa tôn trọng quyết định ấy và sẽ
chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách
nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12
hải lư của Trung Quốc trong mọi quan hệ với
nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển”.
Tuyên bố rất
rơ ràng và phải nói là Bắc Kinh đúng khi họ nói Hà
Nội đă công nhận chủ quyền của họ trên
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Một số các
nhà nghiên cứu trong nước biện luận là lúc
đó, chính phủ Hà Nội đang trong thế cô, cần
sự giúp đỡ của Trung Quốc, vả lại
cũng c̣n chưa thấy có thể đạt
được mục tiêu thống nhất đất
nước dưới quyền họ chứ đừng
nói đến hải đảo, thành ra đă chấp
nhận việc đó.
Lư luận như vậy nghe không ổn bởi
điều mà các sử gia chỉ ra là trong giai đoạn
đó, dầu cho Hà Nội không đưa ra công hàm này,
Bắc Kinh cũng không ở trong cái thế có thể làm ǵ
được Hà Nội. Ngược lại, trong cái
thế tay đôi của thế giới Cộng Sản
hồi đó, Bắc Kinh vẫn phải cạnh tranh giành
ảnh hưởng với Nga nữa. Việc ông Đồng
đă gửi công hàm này quả là một hành động
nhẹ nhất th́ cũng là thiếu suy nghĩ, mà tệ
hơn th́ phải nói là quá hèn.
Bởi lănh thổ
kể cả vùng trời vùng biển là di sản của cha
ông để lại. Ngay đến Việt Nam Cộng Ḥa,
mà Hà Nội vẫn coi là tay sai của Đế quốc
Mỹ, cũng không thể ḷng dạ nào mà kư vào một công
hàm công nhận bán đứng một phần lănh thổ.
Khi Bắc Kinh, thừa nước đục thả câu,
tấn công vào quần đảo Hoàng Sa để khẳng
định một phần của đường
lưỡi ḅ, chính phủ Cộng Ḥa, mặc dầu
thế cô sức yếu, đă cương quyết t́m cách
bảo vệ lănh thổ. Tất cả các chính phủ
Việt Nam, kể cả chính phủ Trần Văn Hữu
tại Hội nghị Cựu Kim Sơn, đều đă
khẳng định chủ quyền trên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tại hội nghị
Cựu Kim Sơn năm 1951, Thủ Tướng Trần
Văn Hữu đă kết luận bài diễn văn
của ông với lời khẳng định “Việt Nam
rất hứng khởi kư nhận trước nhất cho
công cuộc tạo dựng ḥa b́nh này. Và cũng v́ vậy,
cần phải thành thật lợi dụng tất cả
mọi cơ hội để dập tắt những
mầm móng tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ
quyền đă có từ lâu đời của chúng tôi trên
quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.
Chỉ có mỗi chính quyền Cộng Sản
đă không khẳng định chủ quyền đó. Thế ra
không phải bây giờ mà từ năm 1958, điều quan
trọng vẫn là phải bảo vệ đảng hơn
là bảo vệ tổ quốc.
Lê Phan