2-9: Ngày quốc nạn
độc tài

Hồ Chí Minh đọc
tuyên ngôn độc lập trên quảng trường Ba
Đ́nh. Ảnh
Google
Chế độ Cộng Sản Việt
1.- Chủ trương độc
quyền cai trị
Ngày 2-9-1945,
đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) và
Mặt trận Việt Minh (VM), một tổ chức
ngoại vi của đảng CSĐD, cướp chính
quyền. Lúc đó, đảng CSĐD
chỉ có khoảng 5,000 đảng viên. (Philippe Devillers,
Histoire du Viet-Nam đe 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr.
182.) Những người nầy thuộc ba nhóm chính: (1)
Nhóm theo Hồ Chí Minh từ khi c̣n hoạt động ở
Trung Quốc. (2) Nhóm trong nước từ thời Trần
Phú và trước đó. (3) Nhóm từ Liên Xô đi thẳng
về miền Nam. Tuy nhiên cả ba nhóm đều thuộc
đảng CSĐD, dưới sự chỉ huy của
Ủy ban Trung ương đảng CSĐD, và nằm trong
hệ thống CSQT do Liên Xô lănh đạo.
Đảng CSĐD và Mặt trận VM
thành công là nhờ lúc đó quân đội Nhật Bản
đầu hàng Đồng minh ngày 14-8-1945, hạ vơ khí, và
hoàn toàn không chiến đấu; trong khi chính phủ
Trần Trọng Kim không có bộ Quốc pḥng, không có quân
đội để bảo vệ trật tự, an ninh.
Do đó, bộ đội VM một ḿnh thao túng,
cướp chính quyền và công bố thành lập chế
độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (VNDCCH) ngày
2-9-1945.
Ngày 11-9-1945, tức chỉ gần 10 ngày sau
khi chính phủ VNDCCH ra mắt, hội nghị Trung
ương đảng CSĐD tại Hà Nội đưa
ra nguyên tắc căn bản là đảng CSĐD nắm
độc quyền điều khiển mặt trận VM,
và một ḿnh thực hiện cách mạng. (Philippe Devillers,
sđd. tr. 143.) Đảng CSĐD nắm độc
quyền mặt trận VM. Mặt trận VM đang
nắm chính quyền, cai trị đất nước.
Như thế có nghĩa là đảng CSĐD độc
quyền cai trị đất nước.
Do chủ trương độc tôn
quyền lực, VMCS thực hiện hai kế hoạch:
Thứ nhất tiêu diệt tất cả những thành
phần đối lập, theo chủ nghĩa dân tộc.
Thứ hai, thương thuyết với các thế lực
nước ngoài (Trung Quốc và Pháp) nhằm duy tŕ quyền
lực.
Kế hoạch tiêu diệt thành phần
đối lập được VM gọi là “giết
tiềm lực”. Chỉ những ai chịu sự
điều động của VM, th́ được
tồn tại. C̣n những ai có năng lực nhưng không
hợp tác với VM, dầu không chống đối VM,
cũng bị VM tiêu diệt để loại bỏ
những khả năng tiềm ẩn, có thể bất
lợi về sau cho VM. Cho đến nay chưa có thống
kê đầy đủ tổng cộng số người
bị VM sát hại v́ lư do chính trị và tôn giáo từ
cấp cao nhất ở trung ương và các thành phố lớn,
đến cấp thấp ở các làng xă trên toàn quốc,
trong giai đoạn từ khi VM nắm quyền năm 1945.
Con số phỏng chừng không dưới một trăm
ngàn người trên toàn quốc trong cuộc giết
tiềm lực của VM. Con số xem ra lớn lao,
nhưng tính trung b́nh từng tỉnh hoặc thành phố,
nhân lên tổng số tỉnh trên toàn quốc th́ sẽ
thấy rơ. Xin chú ư thêm rằng những người bị
VM giết đa số là nhân tài của đất
nước, có thể nguy hiểm cho cộng sản, nên
mới bị cộng sản giết.
2.- Bước đầu thi hành
độc tài
Việt Minh nắm hết ngay tất
cả những phương tiện truyền thông, đài
phát thanh, các nhà máy in, các cơ sở sản xuất
giấy và buôn bán giấy. Báo Cứu Quốc của mặt
trận VM trước đây phát hành bí mật, nay ra công
khai từ ngày 24-8-1945. Báo Sự Thật, cơ quan ngôn
luận của nhà nước VM, xuất bản số
đầu ngày 5-12-1945. Việt Minh thành lập ban chỉ
đạo báo chí và văn sĩ, huấn luyện cán bộ
tuyên truyền cho chế độ để hướng
dẫn quần chúng.
Ngay khi vừa được thành lập,
tuy chưa có quốc hội để quyết
định, chính phủ VNDCCH đặt thủ đô
tại Hà Nội. Ngày 5-9-1945, bộ trưởng Nội
vụ Vơ Nguyên Giáp kư văn thư quy định quốc
kỳ là “Cờ đỏ sao vàng”, vốn là cờ của
mặt trận Việt Minh, và bài “Tiến quân ca” của
nhạc sĩ Văn Cao là quốc ca.
Lúc đó, quốc kỳ của CSVN có ngôi
sao vàng ở giữa mập đầy, chứ không thon và
sắc cạnh như về sau. Cờ nầy phỏng theo
cờ của các đảng CSTH và Liên Xô. Theo tài liệu
của CSVN, quốc kỳ và quốc ca của nhà
nước VM đă được quyết định
tại Đại hội đại biểu quốc dân
ngày 16-8-1945 ở Tân Trào. (Bộ Quốc Pḥng, Từ
điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân
Đội Nhân Dân, 2004, tr. 911.)
Về hành chánh, VM ban hành sắc lệnh
ngày 5-9-1945 dẹp bỏ toàn bộ hệ thống quan
lại cũ ở thành thị cũng như hào lư ở
nông thôn, và lập ra những Uỷ ban nhân dân trên toàn
quốc theo các cấp xă, huyện, tỉnh, bộ (kỳ).
Uỷ ban nầy gồm những cán bộ VM và những
người thân VM, trong đó đa số chưa thông
thạo công việc hành chánh.
Nghị định ngày 8-9-1945 quy
định tổ chức phổ thông đầu phiếu
trong ṿng hai tháng để bầu cử Quốc dân
đại biểu đại hội (Quốc hội
lập hiến). Tất cả công dân trên 18 tuổi
đều được ứng cử và bầu cử,
không phân biệt giới tính (nam, nữ), sắc tộc.
Tuy nói là hai tháng, nhưng VMCS t́m cách tŕ hoăn
bầu cử. Măi đến khi các đảng phái theo
chủ nghĩa dân tộc, từ Trung Quốc trở
về Việt Nam sau thế chiến thứ hai, đ̣i
hỏi quyết liệt, quốc hội lập hiến
mới được bầu ngày 6-1-1946. Do sự chỉ
định và áp đặt của VM, đa số
đại biểu VM và than VM đắc cử. Chỉ có
một thiểu số nhân vật các đảng phái
được đưa vào quốc hội. Cựu hoàng
Bảo Đại cho biết sau khi ra Hà Nội, ông bị
đưa đi “nghỉ mát” ở Thanh Hóa. Việt Minh cho
người đến mời ông ứng cử. Ông không
tranh cử, nhưng lạ lùng là ông vẫn được
đắc cử ở Thanh Hóa với số phiếu là 92%
cử tri đi bầu. (Bảo Đại, Con rồng
Việt Nam, California: Nguyễn Phước tộc xuất
bản, 1990, tt. 221-222.)
Quốc hội soạn xong bản hiến
pháp và thông qua ngày 9-11-1946, gồm “Lời nói đầu”, 7
chương và 70 điều. Lúc đó, các lănh tụ
đối lập với VM bị khủng bố đă rút
lui hay bỏ qua Trung Quốc, không c̣n ai đối lập
với VM. V́ vậy, Hiến pháp chưa được
chính phủ ban hành, th́ ngày 14-11-1946 quốc hội gồm
đa số đại biểu VM c̣n lại, tuyên bố
đ́nh chỉ thi hành hiến pháp vừa thông qua. (Đoàn
Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài G̣n: 1965, California:
Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 28.)
Trong chế độ cộng sản
đảng trị, nhà nước VM chỉ là cánh tay
nối dài của đảng CS và chỉ tuân theo những
nghị quyết của đảng bộ cộng sản,
thường được gọi là đảng ủy
các cấp, từ trung ương xuống địa
phương, chứ không theo luật pháp quy định.
Nghị quyết là quyết định của một nhóm
người (tức các đảng bộ VM) đưa ra
trong một hội nghị, theo từng hoàn cảnh,
chủ quan chính trị và quyền lợi của nhóm
người đó. V́ vậy, để độc tôn
quyền lực, nhà nước VM không cần đến
hiến pháp nhằm tránh bị hiến pháp ràng buộc.
Ngày 11-9-1945, Hồ Chí Minh gởi thông báo cho
các tỉnh trên toàn quốc, chỉ dẫn cách thức
tổ chức Ủy ban nhân dân tỉnh. Mỗi ủy ban
tỉnh gồm có từ 5 đến 7 người: chủ
tịch, phó chủ tịch, thư kư, và 4 ủy viên (chính
trị, kinh tế, quân sự, xă hội). Ủy viên chính
trị có nhiệm vụ thành lập ṭa án nhân dân trừng
trị những kẻ phạm tội, trái luật, do thám,
Việt gian, tuyên truyền và huấn luyện chính trị
cho nhân dân. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, sđd. tt.
21-23.)
Việt gian là từ ngữ xuất
hiện từ năm 1945 mà VM dùng để chỉ những
người không đồng chánh kiến với VM, theo các
đảng phái khác, hay cộng tác với người Pháp
hoặc người Nhật (VM gọi là tay sai). Việt
Minh muốn hăm hại ai, th́ chỉ cần chụp mũ
Việt Gian là bắt giết. Trong khi đó, Hồ Chí Minh
và VM cộng tác và làm tay sai cho Liên Xô và Cộng sản Trung
Quốc th́ sao?
Về danh
xưng các đơn vị hành chánh, ngày 14-9-1945, VM lấy
tên danh nhân hay tên cán bộ cộng sản đặt tên các
địa phương, thay thế tên cũ. Đại
khái tên các thành phố và tỉnh thành như sau: Thành phố
Hoàng Diệu (Hà Nội); Nguyễn Trăi (Hà Đông);
Đề Thám (Bắc Giang); Lư Thường Kiệt
(Bắc Ninh); Ngô Duy Phường (Thái B́nh); Tán Thuật
(Hưng Yên); Trần Hưng Đạo (Nam Định); Hoa
Lư (Ninh B́nh); Trưng Trắc (Phúc Yên); Nguyễn Thái
Học (Vĩnh Yên); Đội Cấn (Thái Nguyên); Ngô Quyền
(Sơn Tây); Tô Hiệu (Hải Pḥng); Phạm Ngũ Lăo
(Hải Dương); Thái Phiên (Đà Nẵng); Trần Cao
Vân (Quảng Nam); Lê Trung Đ́nh (Quảng Ngăi); Cao Thắng
(Phú Yên); Nguyễn Huệ (Quy Nhơn) …
Tuy nhiên,
người Việt không có thói quen dùng tên người
để đặt tên thành phố theo
kiểu Tây phương, nên ngày 9-10-1945, Hội đồng
chính phủ quyết định các địa phương
đều phải lấy lại tên cũ. Trong thời
gian nầy, chính phủ VM chia nước thành 14 khu, vừa
có tính chất hành chính, vừa có tính chất quân sự, và
dùng con số để đặt tên các khu. Bắc
Bộ có 7 khu (1, 2, 3, 10, 11, 12, 14). Trung
Bộ có 4 khu (4, 5, 6, 15). Nam Bộ có 3 khu
(7, 8, 9). Số thứ tự các khu
về sau sẽ được điều chỉnh.
Điều
đáng nói thêm là để thi hành chủ trương
độc tài đảng trị, đảng CS và VM áp
dụng chính sách “giáo dục phục vụ nhân dân” hay “giáo
dục phục vụ chính trị”. Đó là nền giáo
dục nhằm mục đích trên lư thuyết là phục
vụ nhân dân, phục vụ công nhân lao
động, nhưng trên thực tế là phục vụ
chính trị, tức phục vụ chế độ do
đảng CSĐD lănh đạo.
Chính sách
nầy do thứ trưởng Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn
nhập cảng từ Liên Xô. Có người cho rằng
chính sách nầy ở Liên Xô do bộ trưởng Liên Xô là
Kalenikov (?) đưa ra. Nguyễn Khánh Toàn có tên Nga là Minin,
đă ṭng học tại Học viện Thợ thuyền
Đông phương (Université des Travailleurs d’Orient) ở
Moscow (Liên Xô) từ năm 1928 đến năm 1931.
Trong
nền giáo dục nầy, chương tŕnh học tập
cho học sinh theo đúng lập
trường đảng CSĐD, nhất là các môn nhân
văn (quốc văn, sử địa, công dân hay chính
trị). Chỉ những người có
thẩm quyền trong đảng mới được
soạn sách giáo khoa và sách giáo khoa được xem là pháp
lệnh, không giáo viên nào được giảng dạy ra
ngoài sách giáo khoa. Giáo viên, học sinh đều
phải “hồng” hơn “chuyên”, tức phải mang tính
đảng hơn là khả năng chuyên môn. Với
một nền giáo dục như thế, CSVN chỉ đào
tạo được những người biết vâng
lời hơn là biết suy nghĩ. Cộng sản
chỉ cần như thế để ap
đặt chế độc độc tài toàn trị. Tuy nhiên, chính đó là nguyên nhân suy thoái của
Việt
Chỉ
sơ lược như trên, rơ ràng ngày 2-9 chẳng có ǵ vui
mừng để gọi là “quốc khánh”, mà là ngày mở
đầu cho quốc nạn và quốc nhục độc
tài đảng trị và toàn trị của dân chúng Việt
Nam.
(
Trần Gia Phụng